CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ TRONG CHỨC NĂNG SẢN XUẤT Mã chương: MH 24- 01 Giới thiệu: Trong hoạt động sản xuất, để sản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả cao nhất đòi hỏi người quản trị cần phải nắm rõ cách thức tổ chức và quản lý các hoạt động cũng như cần có những kỹ năng quản trị sản xuất. Quản trị sản xuất bao gồm các hoạt động tồ chức phối hợp sử dụng các yếu tố đầu vào nhằm chuyển hóa thành kết quả ở đầu ra là sản phẩm và dịch vụ với chi phí sản xuất thấp nhất và hiệu quả cao nhất. Mục tiêu: + Trình bày được khái niệm sản xuất, hệ thống sản xuất, quan hệ giữa sản xuất và các chức năng khác, đặc điểm của các loại hình sản xuất. + Trình bày được nội dung và yêu cầu của tổ chức sản xuất.
+ Trình bày được vai trò và những kỹ năng cần thiết đối với người quản trị sản xuất. + Nâng cao kỹ năng giao tiếp và tác phong công nghiệp cho sinh viên. Hệ thống sản xuất 1.1 Khái niệm sản xuất – hệ thống sản xuất 1.1 Khái niệm sản xuất Sản xuất là khâu mở đầu trong quá trình tái sản xuất xã hội, là khâu trực tiếp tạo ra của cải vật chất phục vụ cho tiêu dùng. Nó giữ vai trò quyết định đối với tiêu dùng vì sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng, chất lượng của sản xuất quyết định chất lượng và phương thức tiêu dùng.
Thực chất, sản xuất chính là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, con người, các yếu tố kỹ thuật – công nghệ và các nguồn tài nguyên khác để biến chúng thành các sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ ở đầu ra. Mục đích của quá trình chuyển hóa này là tạo giá trị gia tăng để cung cấp cho khách hàng. Đầu vào Chuyển hóa Đầu ra - Nguồn nhân lực - Nguyên liệu - Khoa học, công nghệ - Làm biến đổi - Hàng hóa - Máy móc, thiết bị - Tăng thêm giá trị - Dịch vụ - Tiền vốn - Nghệ thuật quản trị Sơ đồ: Quá trình sản xuất Như vậy, Sản xuất là quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ hay nói cách khác sản xuất bao hàm bất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Căn cứ 5 vào quan niệm trên, người ta chia sản xuất thành 3 bậc: + Sản xuất bậc 1 (sản xuất sơ chế): là hình thức sản xuất dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc là những hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên có sẵn, còn ở dạng tự nhiên như: khai thác quặng mỏ, lâm, thủy - hải sản, trồng trọt,.
+ Sản xuất bậc 2 (công nghiệp chế biến): là hình thức sản xuất, chế tạo, chế biến các loại nguyên liệu thô hay tài nguyên thiên nhiên thành hàng hóa như: gỗ chế biến thành bàn ghế, quặng mỏ thành sắt thép… Sản xuất bậc 2 bao gồm cả việc chế tạo các bộ phận cấu thành dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghệ. + Sản xuất bậc 3 (công nghiệp dịch vụ): cung cấp hệ thống các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người. Trong nền sản xuất bậc 3, sản phẩm được tạo ra là dạng sản phẩm vô hình: dịch vụ vận tải, bốc dỡ hàng hóa, bưu điện, viễn thông, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, y tế, nhà hàng, khách sạn,. Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp hợp lý các yếu tố sản xuất để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cần thiết cho xã hội.
Đó là quá trình lao động sáng tạo tích cực của con người. Trong sản xuất người ta chia quá trình sản xuất thành hai dạng: - Quá trình tự nhiên: là quá trình mà đối tượng lao động có những biến đổi vật lý, hóa học, sinh học mà không cần có sự tác động của lao động, hoặc chỉ cần tác động ở một mức độ nhất định. - Quá trình công nghệ: là quá trình làm thay đổi hình dáng, kích thước, tính chất vật lý, hóa học của đối tượng chế biến chủ yếu dựa vào sự tác động của máy móc và kỹ thuật công nghệ. Quá trình này được phân chia thành nhiều giai đoạn căn cứ vào các phương pháp chế biến, sử dụng máy móc thiết bị khác nhau.
Mỗi giai đoạn công nghệ có thể bao gồm nhiều bước công việc khác nhau (hay còn gọi là nguyên công). Bước công việc: là đơn vị cơ bản của quá trình sản xuất được thực hiện trên nơi làm việc, do một hoặc một nhóm công nhân cùng tiến hành trên một đối tượng nhất định. Khi xét bước công việc ta phải căn cứ ba yếu tố: nơi làm việc, công nhân, đối tượng lao động. Chỉ cần thay đổi một trong ba yếu tố đó thì bước công việc bị thay đổi.2 Hệ thống sản xuất a.
Hệ thống sản xuất chế tạo (Manufacturing Operation): Hệ thống sản xuất chế tạo làm ra các sản phẩm hữu hình có thể lưu giữ, tồn kho trong những chừng mực nhất định. Căn cứ trên phạm vi thời gian mà doanh nghiệp lập kế hoạch lưu giữ tồn kho, có thể chia hệ thống sản xuất thành 3 loại: + Hệ thống sản xuất để dự trữ (Make to stock): hệ thống sản xuất này tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh và đưa vào dự trữ trước khi có đơn hàng. Sản phẩm được tạo ra dựa trên những tiêu chuẩn, từ những dự đoán hoặc nhu cầu sẵn có trong tương lai. + Hệ thống sản xuất theo đơn hàng: hệ thống sản xuất tạo ra sản phẩm khi nhận được đơn hàng, phục vụ nhu cầu khối lượng nhỏ, sản phẩm đa dạng, không tiêu chuẩn, theo nhu cầu đơn hàng.
6 + Hệ thống sản xuất lắp ráp đơn hàng: hệ thống này ở giữa hai loại trên, nó có thể chủ động tạo ra trước các chi tiết, các kiểu mẫu, các modul tiêu chuẩn, và sẽ lắp ráp các chi tiết, các modul này theo sự chỉ định của khách hàng khi có đơn hàng. Ngoài ra, nếu xét theo tính liên tục của hệ thống sản xuất, người ta có thể phân hệ thống sản xuất thành 2 loại: + Hệ thống sản xuất liên tục: là hệ thống sản xuất mà các máy móc, thiết bị các nơi làm việc được thiết lập dựa trên cơ sở phối hợp một cách hợp lý các bước công việc để biến đầu vào thành các chi tiết, bộ phận, hay sản phẩm nhất định. + Hệ thống sản xuất gián đoạn: là hệ thống sản xuất mà các máy móc thiết bị được nhóm lại hoặc được tổ chức phù hợp với chức năng hay công nghệ mà nó thực hiện. Sự khác biệt cơ bản giữa loại hình sản xuất này và sản xuất liên tục là cho phép nó có khả năng mềm dẻo.
Hệ thống sản xuất dịch vụ (Non-Manufacturing Operation): Hệ thống sản xuất dịch vụ là hệ thống sản xuất tạo ra các sản phẩm vô hình, các dịch vụ. Hệ thống này có những đặc trưng sau: + Sản phẩm không tồn kho được. + Quá trình sản xuất đi đôi với tiêu thụ và sử dụng. + Chất lượng sản phẩm chỉ được xác định sau khi đã sử dụng xong sản phẩm đó.
Tuy nhiên, ngày nay có những hệ thống sản xuất vừa tạo ra sản phẩm hữu hình vừa tạo ra sản phẩm vô hình. Nhìn chung, dù là hệ thống sản xuất chế tạo hay sản xuất dịch vụ thì tất cả các doanh nghiệp sản xuất đều có đặc tính chung là: Thứ nhất, doanh nghiệp sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp hàng hóa hay dịch vụ phục vụ cho nhu cầu đời sống xã hội. Thứ hai, doanh nghiệp sản xuất thông qua các nguồn lực đầu vào tác động vào đối tượng lao động tạo ra sản phẩm Thứ ba, doanh nghiệp sản xuất có tính tập trung cao đòi hỏi sử dụng nhiều kỹ thuật sản xuất và lao động trên phạm vi diện tích nhất định để tạo ra khối lượng sản phẩm đủ lớn đáp ứng cho các nhu cầu đa dạng của con người. Đặc điểm cơ bản của nền sản xuất hiện đại Sản xuất hiện đại có những đặc điểm làm cho sự thành công của doanh nghiệp sản xuất ngày một lớn hơn: Một là, sản xuất hiện đại đòi hỏi phải có kế hoạch đúng đắn, có đội ngũ các kỹ sư, chuyên gia giỏi, công nhân được đào tạo và trang bị hiện đại.
Hai là, nền sản xuất hiện đại quan tâm ngày càng nhiều đến chất lượng. Ba là, nhận thức con người là tài sản lớn nhất của công ty. Bốn là, sản xuất hiện đại ngày càng quan tâm đến vấn đề kiểm soát chi phí. Năm là, dựa trên nền tảng của tập trung và chuyên môn hóa cao.
Sáu là, thừa nhận về tính mềm dẻo của hệ thống sản xuất. Bảy là, sự phát triển của cơ khí hóa trong nền sản xuất hiện đại, hệ thống sản xuất tự động là hướng vươn tới của sản xuất hiện đại. 7 Tám là, ứng dụng máy tính và công nghệ thông tin vào nền sản xuất hiện đại. Chín là, trong nền sản xuất hiện đại các mô hình mô phỏng toán học ngày càng được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ cho các quyết định sản xuất.2 Quan hệ giữa sản xuất và các chức năng khác Trong một doanh nghiệp, luôn luôn tồn tại nhiều chức năng.
Ba chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp đó là: chức năng sản xuất; tài chính và marketing. Chức năng marketing chịu trách nhiệm khám phá, duy trì và phát triển nhu cầu về hàng hóa hay dịch vụ đối với khách hàng; chức năng sẽ tài chính chịu trách nhiệm về các hoạt động liên quan đến việc khai thác, tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn; chức năng sản xuất là một chức năng quan trọng sẽ chịu trách nhiệm tạo ra hàng hóa hoặc dịch vụ cung cấp cho xã hội. Tất cả số lượng, chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ, cách thức đáp ứng nhu cầu đều phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống sản xuất. Trong các doanh nghiệp, chức năng sản xuất thường sử dụng nhiều nhất các nguồn lực và các tài sản có khả năng kiểm soát của nó.
Qua đó, hệ thống sản xuất cũng làm phát sinh phần lớn các chi phí. Hiệu quả của hoạt động sản xuất có ý nghĩa quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong phạm vi nền kinh tế, chức năng sản xuất của các doanh nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ để nâng cao mức sống vật chất của toàn xã hội. Hơn nữa, chức năng sản xuất cũng làm phong phú đời sống tinh thần bằng việc cung cấp dạng dịch vụ rất đặc biệt đó là thông tin.