Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tự học và dạy học tự học vật lý phù hợp với đối tượng học sinh trung học cơ sở. Chương 2: Tổ chức hướng dẫn học sinh trung học cơ sở tự học khi dạy học chương Cơ học, Vật lý lớp 8. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC VÀ DẠY HỌC TỰ HỌC VẬT LÝ PHÙ HỢP VỚI ĐỐI TƢỢNG HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Quan điểm về tự học 1.
Khái niệm tự học Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm tự học: - Tự học là quá trình người học nỗ lực tự chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định. - Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, kết luận khác - Tự học có nghĩa là tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng kỉ xảo với niềm say mê hứng thú của chính bản thân người học. Trong quá trình đó, người học thực sự là chủ thể của nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định. - Các nhà tâm lý học cho rằng tự học là một quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội của hoạt động lý luận và thực tiễn của cá nhân, bằng cách thiết lập các mối quan hệ mới, cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của bản thân chủ thể.
- Tự học của học sinh thực chất là quá trình cá nhân nắm bắt kinh nghiệm của xã hội loài người bao gồm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, năng lực hoạt động sáng tạo và thái độ. - Tự học là hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở trường phổ thông. Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức tổ chức hoạt động nhận thức của cá 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ do chính bản thân người học tiến hành ở lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và SGK đã được ấn định”. Khi người học tự giác phát huy hết phẩm chất và năng lực của mình cho quá trình chiếm lĩnh tri thức thì khi đó hãy tiến hành tự học.
Vai trò của tự học Hoạt động tự học của học sinh có tầm quan trọng đặc biệt. Theo tác giả Nguyễn Như An: “Tự học, tự đào tạo, tự lực trong công việc học tập là yếu tố quan trọng và là nguyên nhân bên trong trực tiếp tác động đến chất lượng đào tạo”. Nó trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả học tập của học sinh và góp phần quyết định hiệu quả đào tạo của nhà trường. Mọi tác động về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cũng phải thông qua sự nỗ lực hoạt động của mỗi cá nhân học sinh mới có hiệu quả.
Học sinh không chỉ là đối tượng tác động của giáo viên mà còn là chủ thể tích cực sáng tạo của quá trình dạy học. Tự học có vai trò to lớn trong giáo dục nhà trường và trong cả cuộc sống của người học. Tự học giúp học sinh chủ động nắm vững tri thức, kĩ năng kĩ xảo. Trong quá trình tự học, học sinh phải tự vận dụng từng bước vốn hiểu biết, kinh nghiệm của loài người biến thành tri thức của bản thân.
Chính trong hoạt động tự học, học sinh đã thể hiện ở trình độ cao vai trò chủ thể nhận thức của mình, kết hợp và thống nhất một cách hài hòa với vai trò đối tượng bị điều khiển trong hoạt động dạy học. Tự học không những giúp học sinh nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập ở nhà trường mà quan trọng hơn, đối với học sinh cấp THCS, nó còn giúp học sinh có được hứng thú, thói quen và phương pháp tự học thường xuyên để không ngừng làm phong phú thêm vốn hiểu biết của mình, tạo thuận lợi để học tập hiệu quả ở các cấp học cao hơn, học tập suốt đời, với những yêu cầu ở mức độ ngày càng cao của nhu cầu xã hội. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tự học giúp học sinh hình thành niềm tin khoa học, phương pháp tư duy khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, lòng say mê nghiên cứu khoa học cũng như cách vận dụng tri thức để thành công trong cuộc sống. Các hình thức của hoạt động tự học Trong quá trình học ở trường phổ thông, học sinh có thể tiến hành hoạt động tự học dưới nhiều hình thức khác nhau, trong những điều kiện khác nhau.
- Một là, hoạt động tự học của học sinh diễn ra trực tiếp dưới sự điều khiển của giáo viên và những phương tiện kỹ thuật ở lớp. Trong hình thức này học sinh phải tự phát huy những năng lực, phẩm chất của mình như khả năng chú ý, óc phân tích, sáng tạo, năng lực khái quát hóa, tổng hợp hóa …. để tiếp thu những tri thức, kĩ năng kĩ xảo theo mục tiêu mà giáo viên đã định hướng. Hình thức này được thực hiện ở lớp dưới sự giám sát chặt chẽ của GV vì vậy HS có thể lựa chọn nội dung học phù hợp, không mất nhiều thời gian tìm kiếm thông tin đồng thời cũng có thể kiểm tra, đánh giá được kết quả học tập của mình.
- Hai là, hoạt động tự học của học sinh cũng có thể diễn ra khi không có sự điều khiển trực tiếp của thầy cô giáo. Hình thức này có thể diễn ra trong một giai đoạn của quá trình học tập hoặc qua tài liệu hướng dẫn. Ở đây học sinh phải tự sắp xếp được thời gian và điều kiện vật chất để tự ôn tập, tự củng cố, tự suy nghĩ, tự hình thành những kĩ năng kĩ xảo ở một lĩnh vực nào đó theo yêu cầu của thầy cô giáo hoặc quy định trong chương trình đào tạo của nhà trường. Hình thức tự học này yêu cầu tính tự giác cao, cũng có thể tự kiểm tra qua tài liệu hướng dẫn, có thể thực hiện ở mọi nơi, tuy vậy khi cần giúp đỡ thì không biết hỏi ai.
- Ba là, hoạt động tự học của học sinh cũng có thể diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo ở trường và cũng không cần có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên. Hoạt động 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này yêu cầu người học có tính độc lập cao, tự giác cao. Đây là hình thức tự học hoàn toàn, học tập ở mức độ cao. HS chủ động hoàn toàn trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp hoạt động.
Tuy vậy HS, nhất là ở lứa tuổi mới lớn rất khó trong việc lựa chọn nội dung phù hợp vì có nhiều loại thông tin, HS dễ bị sự tò mò mất tập trung làm lạc hướng, đồng thời không kiểm tra được kết quả học tập của mình nên có thể dẫn đến dễ chán nản. Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học ở trên thấy rằng mỗi hình thức tự học có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định. Để nhằm khắc phục được những nhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của HS trường THCS Newton chúng tôi đề xuất một số hình thức tự học: tự học theo tài liệu hướng dẫn , tự học theo SKG , tự học theo chương trình hóa, tự học theo bản đồ tư duy và đều có sự giúp đỡ trực tiếp một phần của GV gọi tắt là "tự học có hướng dẫn". Phương pháp dạy học tự học 1.
Khái niệm về phương pháp dạy học tự học Phương pháp thường được hiểu là con đường, là cách thức để đạt được những mục tiêu nhất định. Có nhiều định nghĩa về PPDH. Dưới đây sẽ nêu định nghĩa về PPDH của I.Lecne, một nhà lý luận, nhà giáo dục Xô Viết nổi tiếng, định nghĩa này có phần thích hợp với các đặc trưng của dạy học tích cực mà đang hướng đến hiện nay: “PPDH là một hệ thống tác động liên tục của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS để HS lĩnh hội vững chắc các thành phần và nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định”. Phương pháp dạy học liên hệ với quá trình dạy học, trong đó việc dạy (hoạt động và giao lưu của người thầy) điều khiển việc học (hoạt động và giao lưu của thầy).
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây ra cách thức hoạt động và giao lưu của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo đó, phương pháp dạy tự học là cách thức tác động của giáo viên lên quá trình tự học của học sinh. Trong khuôn khổ của đề tài này, tôi đề cập chủ yếu đến hoạt động tự học có hướng dẫn của thầy, trong đó cũng chú trọng đến việc dạy để học sinh lứa tuổi THCS bước đầu xây dựng được cách tự học ở các hình thức học tập ở mức độ cao hơn. Nói về tự học có sự hướng dẫn của thầy thì tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng học giáp mặt có khơi được khả năng tự học hay không là tùy ở nhận thức của thầy và trò.
Nếu nhận thức đúng về vai trò trung tâm của việc học, nhất là tự học thì sẽ sáng tạo ra được những cơ chế khác như giảm bớt thuyết giảng của thầy, tăng cường các hoạt động đòi hỏi độc lập tư duy, độc lập nghiên cứu của trò. Khi vận dụng đối với trẻ em nhỏ thì người lớn phải giúp các em ý thức được phương châm “Học viên phải huy động hết mọi nguồn lực có trong tay và trong tầm tay trước khi sử dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài. Như vậy, trò là chủ thể, trung tâm, tự mình chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của mình, sự phát triển từ bên trong. Thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn học trò tự học.
Dạy dù sao cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò. Ngoại lực đó phải tạo được sự cộng hưởng của nội lực cố gắng của trò. Sự cố gắng này mới đúng là tự học. Sự kết hợp chặt chẽ để tạo sự cộng hưởng như thế nào sẽ được làm rõ ở nội dung tiếp theo dưới đây.