Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng 1. Quy chế này quy định về tổ chức và quản lý đào tạo trình độ đại học theo phương thức tín chỉ đối với hình thức đào tạo chính quy và vừa làm vừa học, bao gồm chương trình đào tạo và thời gian học tập; hình thức và phương thức tổ chức đào tạo; lập kế hoạch và tổ chức giảng dạy; đánh giá kết quả học tập và cấp bằng tốt nghiệp; những quy định khác đối với sinh viên. Quy chế này áp dụng đối với tất cả các đơn vị và cá nhân liên quan trong đào tạo trình độ đại học theo hình thức chính quy và hình thức vừa làm vừa học tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Trường); 3.
Các chương trình liên kết đào tạo trong nước và với nước ngoài được thực hiện theo thỏa thuận liên kết, hợp tác giữa Trường với các bên và được quy định riêng. Chuẩn chương trình đào tạo, thành phần của chương trình đào tạo, chương trình đào tạo 1. Chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học là những yêu cầu chung, tối thiểu đối với tất cả các chương trình đào tạo của một ngành đào tạo, bao gồm yêu cầu về mục tiêu, chuẩn đầu ra (hay yêu cầu đầu ra), chuẩn đầu vào (hay yêu cầu đầu vào), khối lượng học tập chuẩn toàn khóa, cấu trúc, nội dung, phương pháp giảng dạy, đánh giá kết quả học tập và các điều kiện khác về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất khi thực hiện chương trình đào tạo để bảo đảm chất lượng đào tạo. Thành phần của chương trình đào tạo là một nhóm học phần và các hoạt động học tập, nghiên cứu khác có đặc điểm chung về chuyên môn; có vai trò rõ nét trong thực hiện một nhóm mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.
Các thành phần được sử dụng để thiết kế cấu trúc tổng thể của chương trình đào tạo, như giáo dục đại cương, khoa học cơ bản, cơ sở và cốt lõi ngành, thực tập và trải nghiệm, nghiên cứu khoa học và các thành phần khác (nếu có). Chương trình đào tạo trình độ đại học là một hệ thống các hoạt động giáo dục, đào tạo được thiết kế và tổ chức thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo, hướng tới cấp một văn bằng trình độ đại học cho sinh viên. Chương trình đào tạo bao gồm mục tiêu, khối lượng kiến thức, cấu trúc, nội dung, phương pháp và hình thức đánh giá các điểm thành phần đối với môn học hoặc học phần (sau đây gọi chung là học phần) và có chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Chương trình đào tạo được xây dựng theo đơn vị tín chỉ, cấu trúc từ các học phần, trong đó phải có đủ các học phần bắt buộc và đáp ứng chuẩn chương trình đào tạo theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trong trường hợp đào tạo song ngành, chương trình đào tạo phải thể hiện rõ khối lượng học tập chung và riêng theo từng ngành. Nội dung, chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo áp dụng chung đối với các hình thức, phương thức tổ chức đào tạo và đối tượng người học khác nhau. Đối với người đã tốt nghiệp trình độ đại học thuộc các ngành đào tạo khác, khối lượng học tập thực tế được xác định trên cơ sở công nhận, hoặc chuyển đổi tín chỉ đã tích lũy và miễn trừ học phần trong chương trình đào tạo trước. Chương trình đào tạo phải được công khai đối với người học trước khi tuyển sinh và khi bắt đầu khóa học; những thay đổi, điều chỉnh liên quan đến chương trình đào tạo (nếu có) được thực hiện theo quy định hiện hành và công bố trước khi áp dụng, đảm bảo nguyên tắc không gây tác động bất lợi cho sinh viên.
Thời gian học tập 1. Thời gian theo kế hoạch học tập chuẩn toàn khóa đối với hình thức đào tạo chính quy đơn ngành là 4 (bốn) năm, gồm 8 (tám) học kỳ; song ngành là 5 (năm) năm, gồm 10 (mười) học kỳ. Thời gian theo kế hoạch học tập chuẩn toàn khóa đối với hình thức đào tạo vừa làm vừa học 15 dài hơn tối thiểu 20% so với hình thức đào tạo chính quy của cùng chương trình đào tạo. Thời gian tối đa để sinh viên hoàn thành khóa học theo quy định tại khoản 1 Điều này không vượt quá 2 (hai) lần thời gian theo kế hoạch học tập chuẩn toàn khóa đối với mỗi hình thức đào tạo.
Lớp học, lớp học phần và điều kiện mở lớp 1. Lớp học là lớp được tổ chức từ khi sinh viên nhập học đến khi kết thúc khóa học để học tập, sinh hoạt đoàn thể, phong trào, phổ biến các thông tin cần thiết của Trường đến sinh viên. Mỗi lớp học được gắn một mã số quản lý riêng. Lớp học phần là lớp của các sinh viên cùng đăng ký một học phần, có cùng thời khóa biểu của học phần trong cùng một học kỳ.
Mỗi lớp học phần được gắn một mã số quản lý riêng. Số lượng sinh viên của một lớp học phần được giới hạn bởi sức chứa của phòng học hoặc được sắp xếp theo các yêu cầu riêng, đặc thù của học phần. Đối với các học phần thuộc kiến thức ngành và chuyên ngành, nếu có đề nghị của trưởng khoa phụ trách học phần, Trưởng Phòng Đào tạo hoặc Trưởng Phòng Quản lý hệ vừa làm vừa học (sau đây gọi chung là đơn vị quản lý đào tạo) trình Hiệu trưởng xem xét, quyết định việc mở các lớp có số lượng sinh viên đăng ký học chưa đảm bảo mức tối thiểu theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 10 của Quy chế này. Học phần và các loại học phần 1.
Học phần là một tập hợp hoạt động giảng dạy và học tập được thiết kế nhằm thực hiện một số mục tiêu học tập cụ thể, trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng thuộc một phạm vi chuyên môn hẹp trong chương trình đào tạo. Mỗi học phần (trừ học phần điều kiện) có khối lượng học tập là 2 (hai) hoặc 3 (ba) tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã số riêng do Hiệu trưởng quy định.
Các loại học phần: 16 a) Học phần bắt buộc: là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy. b) Học phần tự chọn: là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được lựa chọn theo hướng dẫn của cố vấn học tập nhằm đa dạng hóa hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tùy ý để tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho mỗi chương trình đào tạo. c) Học phần tiên quyết: là học phần bắt buộc sinh viên phải học trước thì mới được đăng ký học tiếp sang học phần khác. Danh mục các học phần tiên quyết được Hiệu trưởng quyết định trên cơ sở tư vấn và đề nghị của Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường và của trưởng khoa.
d) Học phần tương đương và học phần thay thế - Học phần tương đương: là một hay một nhóm học phần thuộc chương trình đào tạo cùng ngành hoặc của một ngành khác đang đào tạo tại Trường, sinh viên được phép đăng ký học để thay cho một hay một nhóm học phần trong chương trình đào tạo của ngành đang theo học; - Học phần thay thế: là học phần bắt buộc được dùng để thay thế cho một hay một nhóm học phần mà trước đó đã được tổ chức giảng dạy trong một chương trình đào tạo nhưng hiện nay không còn tổ chức giảng dạy; hoặc là học phần tự chọn dùng để thay thế cho một hay một nhóm học phần tự chọn khác mà trước đó sinh viên đã đăng ký học và thi nhưng bị xếp loại không đạt (bị điểm F). Học phần tương đương hoặc thay thế được áp dụng cho tất cả các khóa, các ngành hoặc chỉ được áp dụng cho một số khóa, ngành. Danh mục các học phần tương đương hoặc thay thế được Hiệu trưởng quyết định trên cơ sở đề nghị của trưởng đơn vị quản lý đào tạo và của trưởng khoa có học phần xét công nhận tương đương hoặc thay thế. đ) Học phần điều kiện: là học phần không tính vào điểm trung bình học kỳ, năm học, tích lũy của toàn khóa học, nhưng sinh viên phải học và thi đạt yêu cầu theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Quy chế này hoặc đạt chuẩn đầu ra theo quy định đối với từng chương trình đào tạo thì mới được Trường cấp bằng tốt nghiệp, gồm giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục thể chất (chỉ áp dụng đối với hình thức chính quy), tin học (chỉ áp dụng đối với hình thức vừa làm vừa học và đối với người đã tốt nghiệp đại học theo quy định tại Điều 37 của Quy chế này) và ngoại ngữ; riêng đối với sinh viên lớp chất lượng cao, học phần điều 17 kiện còn bao gồm tin học đạt chứng chỉ MOS-Word (hoặc MOS-Word và Mos-Excel) và học phần ngoại khóa, với các hình thức kiến tập; tham dự hội thảo, hội nghị, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề; học tập, tham quan tại nước ngoài.
e) Học phần chuyên môn: là học phần có thể thuộc kiến thức ngành, chuyên ngành và kỹ năng dành cho sinh viên không được chọn viết khóa luận tốt nghiệp đăng ký học nhằm đảm bảo tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định của chương trình đào tạo để được công nhận tốt nghiệp. Tín chỉ và giờ giảng Tín chỉ là đơn vị tính khối lượng học tập của chương trình đào tạo, của mỗi thành phần trong chương trình đào tạo, của mỗi học phần trong chương trình đào tạo. Sinh viên chủ động lập kế hoạch và đăng ký khối lượng học tập trên cơ sở tư vấn của cố vấn học tập nhằm tích lũy từng phần kiến thức theo tiến độ, phù hợp với điều kiện và năng lực của bản thân để được Trường cấp bằng tốt nghiệp. Một tín chỉ được quy định bằng 15 giờ giảng lý thuyết trên lớp, hoặc bằng 30 giờ thảo luận hoặc thực hành trên lớp, hoặc bằng 45 giờ thực hành ở ngoài lớp học hoặc làm báo cáo thực tập cuối khóa hoặc viết khóa luận tốt nghiệp.