CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BAN VE TO CHUC CONG TAC KE TOAN TAI CAC DON VI SU NGHIEP CO THU 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp có thu 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu, tổ chức công tác kế toán a. Khai niệm đơn vị sự nghiệp có thu Trong Giáo trình Kế toán hành chính sự nghiệp (của Học viện Tài chính xuất bản năm 2013) thì đơn vị sự nghiệp là “đơn vị được Nhà nước thành lập để thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội.
Các đơn vị này được Nhà nước cấp kinh phí và hoạt động theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiép”. Tại Điều I - Điểm 2 Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị SNCL thì “Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nước”. Như vậy việc gọi tắt như trên xuất phát từ bản chất hoạt động các đơn vị HCSN nói chung là hoàn toàn khác biệt so với doanh nghiệp. Nguồn tài chính để duy trì hoạt động do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách.
Các hoạt động này có giá trị về tỉnh than là vô hạn, chủ yếu được tổ chức để phục vụ xã hội do đó chi phi chỉ ra không được trả lại trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế mà được thê hiện bằng hiệu quả xã hội nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, các doanh nghiệp có thể thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau và để tổn tại trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải hoạt động theo nguyên tắc bù trừ giữa thu và chỉ đảm bảo có lãi. Nếu không tuân thủ nguyên tắc này, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng phá sản. Theo Nhà nước ta hiện nay thì quan điểm về tài chính, quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phú, các đơn vị sự nghiệp sẽ được phân loại để thực hiện quyển tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính bao gồm: Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động là các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên bảo đảm được toàn bộ chi phi hoạt động thường xuyên.
Do đó NSNN không cần cấp kinh phí để duy trì hoạt động của đơn vị. Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động. Là những đơn vị có nguôn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự đủ để trang trải toàn bộ chỉ phí hoạt động thường xuyên, NSNN phải cấp một phần chỉ phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị. Đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.
Là những đơn vị không có nguồn thu và có nguồn thu thấp không đủ kinh phí để hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước giao cho. Đơn vị SNCT tự đám bảo một phần chỉ phí hoạt động thường xuyên: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị. Mức kinh phí tự đảm bảo chi phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị được xác định theo công thức sau (nhỏ hơn 100%): Tổng số Mức tự đảm bảo chi phí hoạt nguồn thu nhập sự nghiệp động thường xuyên của đơn = x 100% vị sự nghiệp (3%) Tổng số chỉ hoạt động thường xuyên Trong đó tông số thu sự nghiệp và tông số chi hoạt động thường xuyên của đơn vị tính theo dự toán thu,chi của năm đầu thời kỳ ổn định, tình hình thực hiện dự toán thu, chỉ của năm trước liền kề (loại trừ các yếu tố đột xuất, không thường xuyên) được cấp có thâm quyền phê duyệt. Khái niệm về tổ chức công tác kế toán Theo Giáo trình lý thuyết hạch toán kế toán, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội năm 2017, thì “tổ chức kế toán được hiểu như một mạng lưới các yếu tố cầu thành gồm: tô chức bộ máy kế toán, tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán, kỹ thuật hạch toán, vận dụng các chế độ, thể lệ kế toán.
mối liên hệ và sự tác động giữa các yếu tố đó với mục đích đảm bảo các điều kiện cho việc phát huy tối đa chức năng của hệ thống các yếu tô đó“. Trên cơ sở các quan điểm trên, tác giả cho rằng tô chức kế toán được hiểu như là một mạng lưới các yếu tố cấu thành bao gồm tô 10 chức bộ máy kế toán, tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán, kỹ thuật hạch toán để thu nhận, cung cấp thông tin và xử lý; tô chức vận dụng chính sách, các chế độ, thể lệ kế toán vào đơn VỊ nhằm đảm bảo công tác kế toán phát huy được hết vai trò và nhiệm vụ của mình, giúp công tác điều hành hoạt động và quản lý có hiệu quả. Vì vậy tác giả thống nhất với quan điểm về tổ chức kế toán theo Giáo trình lý thuyết hạch toán kế toán. Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu Đề kiêm soát tốt các hoạt động các đơn vị SNCT cũng như kiểm soát được quá trình phát triển của các loại hình dịch vụ này, phục vụ tốt cho hoạt động của nền kinh tế quốc dân, cần phải xác định các đơn vị SNCT tuỳ thuộc vào lĩnh vực hoạt động hay khả năng đảm bảo nguồn chi phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị.
Hiện tại nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vẫn đề phân loại đơn vị SNCL như trong luận văn của tác giá Nguyễn Đức Dương (2014), don vi SNCT bao gom: - Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực Văn hoá nghệ thuật. - Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục đảo tạo bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống Giáo dục Quốc dân. - Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực Nghiên cứu khoa học. - Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực Thể dục thé thao.
- Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực Y tế. - Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực Xã hội. - Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực Kinh tế. Ngoài các đơn vị SNCT ở các lĩnh vực nói trên còn có các đơn vị SNCT thuộc các tô chức chính trị, Tổng công ty, tổ chức xã hội.
Việc phân loại các đơn vị SNCT theo lĩnh vực hoạt động tạo thuận lợi cho việc phân tích đánh giá hoạt động đơn vị trong các lĩnh vực khác nhau tác động đến nền kinh tế như thế nào, từ đó Nhà nước đưa ra các chính sách, chế độ phù hợp với hoạt động của từng loại đơn vị này. Căn cứ theo phân cấp quản lý tài chính tại đơn vị sử dụng NSNN, theo 11 giáo trình kế toản hành chính sự nghiệp trường Đại học Lao động xã hội năm 2007: - Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị sẽ nhận trực tiếp nguồn dự toán ngân sách năm được các cấp chính quyền giao cho, có trách nhiệm phân bô dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới, chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc thực hiện, tổ chức công tác kế toán và quyết toán ngân sách của mình cũng như của các đơn vị cấp dưới trực thuộc. Đơn vị dự toán cấp I có trách nhiệm quản lí kinh phí của toàn bộ ngành và trực tiếp giải quyết các vấn đề có liên quan đến kinh phí với cơ quan tài chính. Đơn vị dự toán cấp I là các đơn vị thuộc Bộ ở Trung ương, các Sở ở tỉnh, thành phố, các phường ở cấp quận, huyện.
- Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị sẽ nhận được dự toán ngân sách ở đơn vị dự toán cấp I va sé phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp II, tổ chức công tác kế toán và quyết toán ngân sách của mình cũng như của các đơn vị cấp dưới. Đơn vị dự toán cấp II là các đơn vị thuộc đơn vị dự toán cấp I va la đơn vi trung gian thực hiện nhiệm quản lí kinh phí nối liền giữa đơn vị dự toán cấp I với đơn vị dự toán cấp III - Đơn vị dự toán cấp III la đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách dự toán được đơn vị dự toán cấp II hoặc cấp I phân bổ cho (nếu không có cấp II), tổ chức công tác kế toán và quyết toán ngân sách của mình cũng như của các đơn vị cấp dưới (nếu có). Đơn vị dự toán cấp III là các đơn vị dự toán cấp cơ sở trực tiếp chi tiêu kinh phí để phục vụ cho nhu cầu hoạt động của mình và thực hiện các nhiệm vụ quản lí kinh phí tại đơn vị dưới sự chỉ đạo của đơn vị dự toán cấp trên. - Đơn vị dự toán cấp dưới của cấp IH được nhận kinh phí để thực hiện các công việc cu thé, khi chỉ tiêu phải thực hiện quyết toán và công tác kế toán với đơn vị dự toán cấp trên theo đúng quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II và cấp II với cấp I.
Việc phân chia các đơn vị dự toán thành nhiều cấp khác nhau trong hệ thống các đơn vị hành chính sự nghiệp chỉ có ý nghĩa tương đối. Xác định một đơn vị HCSN thuộc loại hình cấp dự toán nào là tùy thuộc vảo quan hệ giữa nó với các đơn vị dự toán khác trong cùng ngành hoặc với cơ quan tải chính. Thứ bậc này sẽ bị 12 thay đổi cùng với sự thay đổi về cơ chế phân cấp quản lý kinh tế tài chính - đặc biệt là cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước. Đặc điểm đơn vị sự nghiệp có thu Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội đề phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nha nuoc.
Chính phủ ban hành Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng I năm 2002, nhằm tăng quyền tự chủ các đơn vị sự nghiệp, ngày 25 tháng 4 năm 2006 Chính phủ ban hành nghị định 43/2006/NĐ-CP thay thế mở rộng quyền tự chủ hơn nữa cho các đơn vị sự nghiệp.