BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ CỤC PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP Chuyên đề NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THAM GIA HỘI CHỢ TRIỂN LÃM THƢƠNG MẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP (Tài liệu dành cho đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa) Biên soạn: PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Hƣơng HÀ NỘI - 2012 Liên hệ zalo: 0898424904 để được hổ trợ nhanh nhất MỤC LỤC PHẦN 1. HéI CHî, TRIÓN L·M TH¦¥NG M¹I Vµ VAI TRß CñA Nã §èI VíI C¸C DOANH NGHIÖP KINH DOANH TRONG C¥ CHÕ THÞ TR¦êNG. HỘI CHỢ, TRIỂN LÃM - MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI. Tính tất yếu của xúc tiến thƣơng mại đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Hội chợ, triển lãm thƣơng mại - Một nội dung quan trọng của xúc tiến thƣơng mại. HỘI CHỢ, TRIỂN LÃM THƢƠNG MẠI VÀ NHỮNG LỢI ÍCH ĐẠT ĐƢỢC KHI DOANH NGHIỆP THAM GIA HỘI CHỢ, TRIỄN THƢƠNG MẠI. Phân loại hội chợ, triển lãm. NỘI DUNG THAM GIA HỘI CHỢ, TRIỂN LÃM THƢƠNG MẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP.
CÁC LOẠI HỘI CHỢ, TRIỂN LÃM THƢỜNG NIÊN MÀ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM CÓ THỂ THAM GIA. Hội chợ triển lãm trong nƣớc. Hội chợ, triển lãm ở nƣớc ngoài. MỘT SỐ ĐƠN VỊ CHUYÊN TỔ CHỨC HỘI CHỢ, TRIỂN LÃM CỦA VIỆT NAM.
NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG THAM GIA HỘI CHỢ, TRIỂN LÃM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP. Các hoạt động trƣớc khi tham gia hội chợ, triển lăm. Các công việc phải làm trong hội chợ, triển lãm thƣơng maị. Các hoạt động diễn ra sau thời gian tham gia hội chợ, triển lãm.
Điều kiện về phía doanh nghiệp. Điều kiện về phía nhà tổ chức. Các điều kiện khác. HỆ THỐNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG.
56 PHẦN IV: HƢỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU. 59 Phần 1: Tham gia Hội chợ triển lãm và vai trò của tham gia hội chợ triển lãm đối với các doanh nghiệp. 60 PHẦN 2: NỘI DUNG THAM GIA HỘI CHỌ TRIỂN LÃM THƢƠNG MẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP. 62 Phần 3: HƢỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU.
Error! Bookmark not defined. HéI CHî, TRIÓN L·M TH¦¥NG M¹I Vµ VAI TRß CñA Nã §èI VíI C¸C DOANH NGHIÖP KINH DOANH TRONG C¥ CHÕ THÞ TR¦êNG I. HỘI CHỢ, TRIỂN LÃM - MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI 1. Tính tất yếu của xúc tiến thƣơng mại đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Kinh tế ngày càng phát triển, hàng hóa ngày càng đa dạng, phong phú; Cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt.
Vì vậy, tiêu thụ hàng hóa trở thành vấn đề sống còn và là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Nhằm đẩy nhanh việc tiêu thụ sản phẩm các doanh nghiệp đã đƣa ra nhiều cách thức ứng xử khác nhau. Một trong các cách thức ứng xử đƣợc các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia sử dụng từ đầu những năm 20 của thế kỷ 20 đó là: ―MARKETING‖. Hiện nay, marketing đƣợc coi là một loại nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh hiện đại.
Với các tiêu thức phân chia khác nhau, có các loại marketing khác nhau. Theo phạm vi ứng dụng, marketing có hai loại: MACRO MARKETING và MICRO MARKETING. Macro marketing đƣợc ứng dụng trong mọi nền kinh tế nhằm mục đích cân đối cung cầu để thực hiện mục tiêu chung của mỗi quốc gia. Micro marketing chỉ tồn tại và phát triển đƣợc trong nền kinh tế thị trƣờng.
Mặc dù macromarrketing đƣợc áp dụng vào mọi nền kinh tế nhƣng cách thức áp dụng trong mỗi loại nền kinh tế có khác nhau. Ở Việt Nam, trong thời kỳ nền kinh tế đƣợc quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, ba vấn đề cơ bản của kinh doanh chỉ đƣợc giải quyết từ một trung tâm. Giá cả của các hàng hóa dịch vụ đều do nhà nƣớc quyết định. Hoạt động mua bán hàng hóa ở các doanh nghiệp hoàn toàn đƣợc thực hiện thông qua chỉ tiêu pháp lệnh, cả việc mua sắm các yếu tố đầu vào cho sản xuất đến việc tiêu thụ (bán) các sản phẩm sản xuất.
Trong một thời kỳ dài, Macro Marketing đã phát huy tác dụng trong việc huy động các nguồn lực của nền kinh tê vào việc thực hiện mục tiêu chính trị xã hội, kiểm soát chặt chẽ nền kinh tế, chống lại các lực lƣợng phản động, ổn định nền kinh tế xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển sản xuất kinh doanh cho thấy vối cơ chế kế hoạch hóa tập trung thì ứng dụng Macro Marketing nhƣ vậy chỉ thích ứng với nền kinh tế giản đơn, chậm phát triển hoặc trong điều kiện chiến tranh. Khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định cách ứng dụng Macro 2 Marketing nhƣ vậy không còn phát huy hiệu quả của nó. Vì vậy, mục tiêu của Macro Marketing cũng nhƣ nội dung các hoạt động Marketing cũng phải đƣợc thay đổi thì việc ứng dụng Marketing mới đem lại hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế.
Theo Các Mác: một nền sản xuất nhất định sẽ quyết định một chế độ tiêu dùng nhất định, quyết định một chế độ lƣu thông nhất định. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, toàn bộ hoạt động thƣơng mại đƣợc diễn ra theo kế hoạch. Nhà nƣớc độc quyền về ngoại thƣơng. Thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh, các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động mua bán.
Việc thực hiện quá trình mua bán theo chỉ tiêu và địa chỉ đã dẫn đến hậu quả là thủ tiêu tính năng động sáng tạo của các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, gây căng thẳng giả tạo về nhu cầu hàng hóa và hạch toán kinh doanh chỉ là hình thức. Các doanh nghiệp luôn biết chắc chắn rằng hàng hóa mà mình sản xuất kinh doanh là đã bán đƣợc. Các doanh nghiệp không quan tâm đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, mọi hoạt động về tìm kiếm cơ hội kinh doanh mới, tìm hiểu nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, các vấn đề về chiến lƣợc sản phẩm, chiến lƣợc phân phối, chiến lƣợc giá, chiến lƣợc xúc tiến để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng không đƣợc các doanh nghiệp quan tâm.
Trong điều kiện này, Marketing ở tầm doanh nghiệp không có điều kiện để tồn tại và phát triển. Hoạt động xúc tiến thƣơng mại không trở thành hoạt động thiết yếu đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong cơ chế thị trƣờng có sự điều tiết của nhà nƣớc, sự vận hành của Macro Marketing có sự thay đổi về căn bản. Macro Marketing hoạt động trên cơ sở: thị trƣờng là nhân tố quyết định giải quyết ba vấn đề cơ bản của sản xuất kinh doanh: sản xuất kinh doanh cái gì, sản xuất kinh doanh cho ai, sản xuất kinh doanh nhƣ thế nào. Nhu cầu của ngƣời tiêu thụ giữ vai trò trung tâm, vai trò quyết định.
Hệ thống Macro Marketing chịu sự tác động của các quy luật của nền kinh tế thị trƣờng. Mặt khác, sự điều tiết của nhà nƣớc là một tất yếu và có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm phát triển có hiệu quả toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thực hiên các mục tiêu kinh tế, xã hôi. Chính phủ một mặt cần có chiến lƣợc phát triển trong thời kỳ dài, mặt khác phải có kế hoạch phát triển trong từng giai đoạn trung và ngắn hạn cho mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Dựa trên kết quả nghiên cứu nhu cầu thị trƣờng và cách ứng sử của các doanh nghiệp, hệ thống Macro Marketing đƣa ra các mục tiêu marketing và tổ chức các hoạt động nhằm giải quyết hài hòa nhu cầu tiêu dùng, mục tiêu của quốc gia và mục tiêu của doanh nghiệp.
Qua đó cân đối cung cầu, đáp ứng mục tiêu phát triển đất nƣớc đặc biệt là trong kinh doanh xuất nhập khẩu. Nhờ có Macro Marketing, sự khác biệt giữa nhà sản xuất và ngƣời tiêu thụ 3 đƣợc kết nối lại. Thông qua các chính sách Marketing ỏ tầm vĩ mô, các nhà sản xuất kinh doanh có thể có các thông tin cần thiết để xác định ba vấn đề cơ bản của sản xuất kinh doanh. Thông qua hệ thống Macro Marketing, ngƣời tiêu dùng đƣợc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trƣớc những rủi ro do hệ thống Marketing ở tầm doanh nghiệp đem lại.
Hệ thống Macro Marketing vận hành theo cách thức đó sẽ giúp cho hệ thống Marketing ở các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Bởi có những hoạt động Marketing ở tầm doanh nghiệp chỉ thực hiện đƣợc khi có sự phối hợp hoạt động Marketing ở tầm vĩ mô. Thật vậy, trong cơ chế thị trƣờng, giá cả đƣợc hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu, cạnh tranh là vấn đề bất khả kháng đối với tất cả các doanh nghiệp. Đặc biệt, do sự vận động của môi trƣờng kinh doanh, trên thị trƣờng thƣờng xuyên xuất hiện những cơ hội kinh doanh mới, đồng thời thƣờng xuyên làm mất đi các cơ hội kinh doanh hiện có của các doanh nghiệp.
Khác với cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về hiệu quả của quá trình kinh doanh. Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trƣờng, các doanh nghiệp cần phải đạt đƣợc ba mục tiêu cơ bản: Mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu vị thế, mục tiêu an toàn. Để đạt đƣợc các mục tiêu trên, một mặt các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trƣờng, xác định chuẩn xác thị trƣờng kinh doanh của doanh nghiệp, nghiên cứu kỹ hành vi mua sắm của các khách hàng, đƣa ra cách thức đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất trong điều kiện có thể. Mặt khác, để có khả năng thắng thế trên thị trƣờng cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải tăng trƣởng thƣờng xuyên, đổi mới thƣờng xuyên.
Để tăng trƣởng và đổi mới, các doanh nghiệp cần phải không ngừng tìm kiếm các cơ hội kinh doanh hấp dẫn mối đối với doanh nghiệp, kinh doanh phải có lợi nhuận. Hoạt động thƣơng mại của các doanh nghiệp trong thòi kỳ này có sự thay đổi về chất. Vấn đề tự do hóa thƣơng mại từng bƣớc đƣợc hình thành. Trừ một số mặt hàng chiến lƣợc mang tính quốc gia có ảnh hƣởng lớn đến các cân đối của nền kinh tế quốc dân, các hàng hóa đều đƣợc tự do buôn bán.
Thị trƣờng ngoài nƣớc đƣợc mở rộng theo hƣớng đa dạng hóa, đa phƣơng hóa. Theo Nghị định 57 CP ngày 30/8/1998 thì doanh nghiệp đều đƣợc phép xuất khẩu trực tiếp khi đã đăng ký mã số ở Cục Hải quan. Để thích ứng với cơ chế mới, các doanh nghiệp phải nghiên cứu cung cầu hàng hóa và xu hƣớng vận động của môi trƣờng kinh doanh để tìm cách đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng theo đúng triết lý kinh doanh của nền kinh tế hàng hóa.