CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 1.1 Tổng quan về tiền lương 1.1 Tiền lương là gì? Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Tiền lương của người lao động do hai bên người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả lương theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc được giao. Tuy nhiên mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Người sử dụng lao động phải đảm bảo trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.
Chức năng của tiền lương Tiền lương có 4 chức năng như sau: Đầu tiên, chức năng của tiền là thước đo giá trị sức lao động. Nó được xem là giá trị của sức lao động, là cái thước đo mức tiền về chức vụ của người lao động, là cơ sở xác định đơn giá sản phẩm. Tiếp theo là, chức năng tái sản xuất sức lao động. Là hình thức tiền lương sẽ được sử dụng một phần vào việc tái sản xuất giản đơn mà người lao động bỏ ra khi trong quá trình lao động nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài và có hiểu quả trong quá trình làm việc.
Tiếp là, chức năng tích lũy. Có nghĩa là đây sẽ đảm bảo được cuộc sống hằng ngày cũng như dự phòng cho đời sống của người lao động khi họ gặp rủi ro, biến cố bất ngờ xảy ra trong cuộc sống của họ. 4 Cuối cùng là, chức năng kích thích. Theo em hiểu thì chức năng này nói về loại tiền thưởng hàng tháng mà doanh nghiệp đề ra như một cơ hội để người lao động có đọng lực làm việc.
Một số quy định pháp luật về tiền lương 1. Mức lương tối thiểu (Điều 91) (trích từ: Bộ Tư Pháp, Đề án “ Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại một số địa bàn trọng điểm về vi phạm pháp luật giai đoạn 2017-2021; Tìm hiểu một số quy định pháp luật về tiền lương”, Bộ luật Lao động, 2019)[1] 1. Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Mức lương tối thiểu được xác lập theo vùng, ấn định theo tháng, giờ.
Mức lương tối thiểu được điều chỉnh dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; tương quan giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường; chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế; quan hệ cung, cầu lao động; việc làm và thất nghiệp;năng suất lao động; khả năng chi trả của doanh nghiệp. Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc. Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng tiền Đồng Việt Nam, trường hợp người lao động là người nước ngoài tại Việt Nam thì có thể bằng ngoại tệ. Mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động, trong đó ghi rõ tiền lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có).
Hình thức trả lương (Điều 96)[1] 5 1. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán. Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng. Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.
Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm (Điều 98)[1] 1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau: a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; c) Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày. Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc ï của ngày làm việc bình thường. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.
Tiền lương ngừng việc (Điều 99)[1] Trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau: 1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động; 2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc thì được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu; 6 3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau: a) Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu; b) Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.
Tạm ứng tiền lương (Điều 101)[1] 1. Người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thỏa thuận và không bị tính lãi. Người sử dụng lao động phải cho người lao động tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và người lao động phải hoàn trả số tiền đã tạm ứng. Người lao động nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự thì không được tạm ứng tiền lương.
Khi nghỉ hằng năm, người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp 1. Trả Lương theo thời gian Lương thời gian là số tiền mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động hưởng lương theo thời gian, căn cứ vào thời gian làm việc theo tháng, tuần, ngày, giờ, được xác định trong hợp đồng lao động. Lương tháng là tiền lương trả cho một tháng làm việc của người lao động được xác định theo mức ghi trong hợp đồng lao động hoặc quy định trong thang lương, bảng lương áp dụng cho người lao động đó. 7 Lương tuần là tiền lương trả cho một tuần làm việc của người lao động.
Lương ngày là tiền lương trả cho một ngày làm việc của người lao động. Lương giờ là tiền lương trả cho một giờ làm việc của người lao động; trường hợp hợp đồng lao động thỏa thuận tiền lương theo tháng hoặc theo tuần hoặc theo ngày thì tiền lương giờ được xác định bằng tiền lương ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong ngày theo quy định tại điều 105 Bộ luật lao động 2019. Theo quy định về hình thức trả lương theo thời gian được quy định tại Điều 96 Bộ luật lao động 2019; Điều 54 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hề lao động cụ thể Cách tịnh như sau: Lương tháng= Ltt*(Hcb + Hpc) Trong đó: Ltt: mức lương tối thiểu Hcb: hệ số cấp bậc lương của từng người Hpc: hệ số các khoản phụ cấp Hoặc: Tiền lương tháng Lương tháng = Số ngày trong tháng theo chế độ 1. Trả lương theo sản phẩm Lương theo sản phẩm là tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào đơn giá khoán sản phẩm và số lượng, chất lượng sản phẩm thực tế họ đã làm ra.
Tiền lương của người lao động phụ thuộc vào số sản phẩm hợp lệ mà họ đẫ sản xuất ra và được người sử dụng lao động chấp nhận nó và đơn giá tiền lương mà người sử dụng lao động áp dụng vào sản phẩm đó.Nếu người lao 8 động làm càng nhiều sản phẩm thì đơn giá càng cao thì tiền lương của họ sẽ càng cao.