Đặt vấn đề Trong những năm qua, nền kinh tế Việt nam có những thay đổi mang tính thời đại, với nhiều thách thức trong quá trình hội nhập. Đối với các nhà Doanh nghiệp Việt nam, đây là giai đoạn thử thách quan trọng, một mặt nó mở ra những cơ hội, triển vọng đầy hứa hẹn mặt khác nó chứa đựng những rủi ro khó lường của quy luật cạnh tranh. Do đó, việc quản lý, lãnh đạo khoa học, có hiệu quả các hoạt động kinh tế đã trở thành yêu cầu cấp thiết của các doanh nghiệp nói chung và ngành xây dựng cơ bản nói riêng để duy trì sự tồn tại và sự phát triển của mình. Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân, nó tạo ra cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế cho đất nước.
Vì vậy, với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hội nhập buộc các doanh nghiệp nhất là các ngành XDCB phải tìm ra con đường đúng đắn, phương án sản xuất kinh doanh tối ưu để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường. Thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh là phải đáp ứng tốt nhu cầu thị trường, tối đa hóa lợi nhuận các doanh nghiệp XDCB phải tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức sản xuất sao cho hợp lý và đạt hiệu quả nhất về nguồn vốn và nguồn lực hiện có. Đặc biệt, trong XDCB nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị công trình. Do đó, hiệu quả của công tác quản lý nguyên vật liệu có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, một sự biến đổi nhỏ về nguyên vật liệu cũng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đòi hỏi công tác tổ chức kế toán nguyên vật liệu ở Doanh nghiệp luôn được cải tiến và hoàn thiện.Việc tổ chức tốt công tác kế toán nguyên vật liệu sẽ giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp có những thông tin kịp thời và chính xác để lựa chọn 1 phương án kinh doanh tốt nhất, lập dự toán nguyên vật liệu đảm bảo cung cấp đầy đủ, đúng và kịp thời cho quá trình sản xuất. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải biết sử dụng kế toán như là một công cụ không thể thiếu. Kế toán NVL với chức năng là công quản lý tính toán, theo dõi kịp thời về mặt số lượng và giá trị vật liệu nhập – xuất – tồn kho làm cơ sở cho việc xác định chi phí NVL trong tổng chi phí sản xuất. Đồng thời tạo tiền đề cho kế hoạch tiết kiệm chi phí NVL và hạn chế đến mức thấp nhất sự lãng phí , không cần thiết.
Vì vậy, kế toán NVL cũng là vấn đề đang được doanh nghiệp quan tâm trong điều kiện hiện nay. Công ty TNHH Giao Thông Vận Tải là đơn vị chuyên xây dựng các công trình giao thông, dân dụng. Do đó, NVL được coi là yếu tố rất quan trọng, không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có quy mô lớn , kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, và mỗi sản phẩm có quy trình tổ chức sản xuất, phát sinh chi phí khác nhau nên việc sai sót, nhầm lần trong quá trình quản lý, hạch toán chi phí nguyên vật liệu là điều khó tránh khỏi.
Ngoài ra, việc tiết kiệm triệt để các chi phí phát sinh cũng có thể coi là một trong những biện pháp hữu hiệu để giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho công ty. Vậy nên, đòi hỏi công ty phải có một kế toán NVL riêng để theo dõi, quản lý và nắm bắt kịp thời sự biến động vật tư, giá thành sản phẩm trong công ty. Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán nguyên vật liệu, trong quá trình thực tập tại công ty TNHH Giao Thông Vận Tải, em đã lựa chọn đề tài “Kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Giao Thông Vận Tải” làm đề tài tốt nghiệp của mình.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Tìm hiểu thực tế về công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Giao Thông Vận Tải. Trên cơ sở đó đưa ra được những đánh giá, đề xuất để hoàn thiện quy trình quản lý và hạch toán nguyên vật liệu trong công ty.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu chung của đề tài, cần phải làm rõ những mục tiêu cụ thể sau: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp - Tìm hiểu công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Giao Thông Vận Tải 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Giao Thông Vận Tải” 1.2 Phạm vi nghiên cứu 1.1 Phạm vi nội dung - Kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Giao Thông Vận Tải - Công trình cải tạo nhà ăn N5 1.2 Phạm vi thời gian - Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 10/08/2020 - 11/01/2021 - Số liệu phục vụ đề tài được thu thập trong các năm 2017- 2020 1.3 Phạm vi không gian - Đề tài được nghiên cứu tại Công ty TNHH Giao Thông Vận Tải - Địa chỉ: Tầng 1 – Nhà T2 - Trường Đại học Giao Thông Vận Tải (số 3, phố Cầu Giấy, Phường Láng Thượng, Quận Đống Đa, TP.
3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan tài liệu 2.1 Cơ sở lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu 2.1 Khái niệm nguyên vật liệu Nguyên vật liệu là đối tượng lao động, là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là cơ sở vật chất tạo nên sản phẩm. Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm được sản xuất (Võ Văn Nhị, 2002). Nguyên vật liệu bao gồm nhiều loại như: cát, đá, xi măng,. Đây là những NVL rất đặc trưng của ngành xây lắp.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác động của con người, NVL sẽ chuyển dịch toàn bộ giá trị của nó để tạo ra sản phẩm. Chi phí về vật liệu luôn chiếm tỉ trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Vì vậy, nguyên vật liệu không chỉ quyết định đến mặt số lượng của sản phẩm mà còn ảnh hưởng lớn trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Nguyên vật liệu đảm bảo chất lượng cao, đúng quy cách chủng loại thì chất lượng sản phẩm sản xuất mới đạt yêu cầu, phục vụ đắc lực hơn cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Trong doanh nghiệp xây lắp, khối lượng nguyên vật liệu rất lớn, nếu công tác quản lý không tốt sẽ gây thất thoát và lãng phí. ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong xu thế thị trường phát triển như hiện nay, việc tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu sẽ đem lại nhiều lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Từ những đặc điểm nêu trên cho thấy, nguyên vật liệu có vai trò rất quan trọng, là yếu tố không thể thiếu trong các doanh nghiệp sản xuất.
Chính vì thế, 4 việc tổ chức quản lý nguyên vật liệu là việc rất cần thiết trong mỗi doanh nghiệp.2 Phân loại nguyên vật liệu Nguyên vật liệu bao gồm rất nhiều loại, nhiều thứ với nội dung kinh tế công dụng và tính năng khác nhau. Để có thể quản lý nguyên vật liệu một cách chặt chẽ và đạt hiệu quả cao đồng thời hạch toán chi tiết nguyên vật liệu phục vụ cho kế toán quản trị cần thiết phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu. - Theo nội dung kinh tế : + Nguyên vật liệu chính: là những đối tượng chủ yếu cấu thành nên sản phẩm được sản xuất ra như xi măng, gạch, ngói …trong doanh nghiệp xây dựng. Toàn bộ giá trị của NVL được chuyển vào giá trị sản phẩm mới.
+ Nguyên vật liệu phụ: Là những thứ chỉ có tác động phụ trợ trong sản xuất và chế tạo sản phẩm. Nguyên vật liệu phụ thường được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện sản phẩm hay phục vụ cho nhu cầu công nghệ, kỹ thuật hoặc quản lý. + Nhiên liệu: Là loại vật liệu phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho hoạt động máy móc thiết bị, phương tiện vận tải như xăng, dầu, hơi đốt…nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn hay thể khí. + Thiết bị cơ bản: Bao gồm các thiết bị cần lắp, không cần lắp các vật kết cấu, các vật tư xây dựng… dùng cho công tác xây dựng cơ bản trong doanh nghiệp.
+ Phụ tùng thay thế: Là những loại vật tư dùng để sửa chữa, thay thế máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ. + Vật liệu khác: Là loại vật liệu không được xếp vào loại kể trên gồm phế liệu do qua trình sản xuất loại ra như sắt, thép, gỗ, vải vụn hay phế liệu thu hồi được từ việc thanh lý tài sản cố định. - Theo nguồn hình thành: 5 + NVL nhập từ bên ngoài: Do mua ngoài, nhận góp vốn liên doanh, nhận biếu tặng. + NVL tự chế: Do doanh nghiệp tự sản xuất chế biến, gia công.
+ NVL do đơn vị khác góp vốn, liên doanh + NVL được cấp phát, biếu tặng - Theo mục đích sử dụng: + NVL dùng trực tiếp cho chế tạo sản phẩm: Là NVL dùng trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm, là bộ phận chính cấu thành nên thực thể sản phẩm. + NVL dùng cho quản lý ở các phân xưởng, dùng cho bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý của doanh nghiệp.3 Vai trò kế toán nguyên vật liệu Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp có đặc điểm là số lượng lớn, nhiều chủng loại và hay bị ảnh hưởng bởi các tác động bên ngoài. Chính vì thế, yêu cầu quản lý nguyên vật liệu là một yêu cầu cấp thiết và cần được thực hiện đồng bộ ở tất cả các khâu thu mua, dự trữ đến đưa vào sử dụng. Từ yêu cầu quản lý nguyên vật liệu càng nêu bật lên tầm quan trọng của kế toán nguyên vật liệu.
Kế toán nguyên vật liệu là việc ghi chép, phản ánh đầy đủ tình hình nhập - xuất - tồn nguyên vật liệu lên sổ sách.