Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về kinh tế học HÃY L A CHỌN CÂU TRẢ LỜI ĐÚNG VÀ GIẢI THÍCH 9. Ba vấn đề kinh tế: Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai chỉ áp dụng: a. Chủ yếu cho các xã hội mà nền kinh tế hoạt động theo nguyên tắc kế hoạch hoá tập trung. Chỉ áp dụng cho các xã hội tư bản chủ nghĩa c.
Chỉ áp dụng cho xã hội kém phát triển d. Cho tất cả các xã hội, trong mọi giai đoạn phát triển hay mọi thể chế chính trị. Không nhất thiết áp dụng với các xã hội nêu trên, bởi vì chúng là các vấn đề nẩy sinh đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc gia đình chứa không phải đối với xã hội. Đường cầu hàng hoá X cho biết: a.
Số tiền chi mua hàng hoá X sẽ thay đổi như thế nào khi giá của nó thay đổi. Bao nhiêu hàng hoá X sẽ được người mua tại mức giá cân bằng c. Số lượng hàng hoá X được cung cấp trong từng thời kỳ theo mỗi mức giá, khi các nhân tố tác động đến lượng bán được giữ không đổi. Một số lượng hàng hoá X được mọi người mua trong từng thời kỳ, theo mỗi mức giá, khi các nhân tố tác động đến cầu được coi như không đổi.
Nếu đường cầu dịch chuyển sang trái, thì một cách giải thích hợp lý nhất đối với sự dịch chuyển đó là: a. Về một lý do nào đó làm lượng cung hàng hoá X giảm xuống b. Thị hiếu người tiêu dùng thay đổi theo hướng họ thích hàng hoá này hơn và họ muốn mua nhiều hơn đối với mọi mức giá. Mức giá hàng hoá X tăng lên làm cho mọi người quyết định mua ít hàng hoá này hơn so với trước d.
Vì một lý do nào khác không phải lý do nêu trên 12. Chi phí cơ hội là: a. Là các chi phí cần phải chi ra để thực hiện phương án kinh doanh nào đó b. Là khoản chi phí tăng thêm để sản xuất ra hàng hoá dịch vụ tăng thêm d.
Là chi phí lớn nhất của các phương án bị bỏ lỡ e. Là chi phí không được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. 22 Chương 2: Khái quát về kinh tế học vĩ mô CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ GI I THIỆU Mục tiêu chủ yếu của chương này là nhằm giới thiệu đối tượng nghiên cứu của kinh tế Vĩ mô, mục tiêu và các chính sách kinh tế vĩ mô, cũng như công cụ chủ yếu được sử dụng trong phân tích kinh tế vĩ mô. Kinh tế Vĩ mô nghiên cứu hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Quốc dân nói chung và quan tâm đến những vấn đề mà bất cứ một quốc gia nào trong cơ chế thị trường đều gặp phải đó là: Làm thế nào để tăng trưởng nhanh và ổn định; Làm thế nào để kiềm chế lạm phát; Làm thế nào để tạo ra nhiều việc làm cho người lao động; Làm thế nào để ổn định tỷ giá hối đoái và cân bằng cán cân thanh toán; làm thế nào để phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và phân phối của cải một cách công bằng giữa các thành viên trong xã hội.
Muốn giải quyết được các vấn đề nêu trên một cách có căn cứu khoa học, kinh tế vĩ mô cố gắng mô tả và giải thích sự vận động của guồng máy kinh tế quốc dân bằng cách nghiên cứu mối quan hệ giữa các tổng lượng kinh tế vĩ mô chủ yếu như: tổng sản phẩm quốc dân, mức giá cả chung, lãi suất, tỷ giá hối đoái,. Với phương pháp cơ bản mà kinh tế vĩ mô sử dụng là phương pháp phân tích cân bằng tổng thể, phương pháp mô hình hoá và phân tích thống kế số lớn. Mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản là được sự ổn định trong nắng hạn, tăng trưởng nhanh trong dài hạn và phân phối của cải công bằng. Để đạt được mục tiêu ổn định, Nhà nước cần phải sử dụng các công cụ là các chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách thu nhập,.Để đạt được mục tiêu tăng trưởng, thì Nhà nước thường phải sử dụng các chính sách như chính sách tiết kiệm, chính sách đầu tư, chính sách công nghệ, chính sách giáo dục và dân số,.
Phân tích tổng cung – tổng cầu là phương pháp phân tích kinh tế vĩ mô cơ bản nhằm lý giải vì sao có những giao động trong giá cả và sản lượng và làm thế nào mà Nhà nước có thể ổn định được nền kinh tế. Cân bằng dài hạn đạt được khi tổng cầu bằng với tổng cung dài hạn. Nền kinh tế đạt được sản lượng cao nhất vì khi đó lao động được thu hút vào sản xuất nhiều nhất, các nguồn lực khác được sử dụng hợp lý, sản lượng đạt được sản lượng tiềm năng, giá cả hầu như không thay đổi, thất nghiệp chỉ là thất nghiệp tự nhiên. Cân bằng ngắn hạn có thể tương ứng với trạng thái lạm phát hoặc thất nghiệp, tuỳ thuộc vào nền kinh tế hoạt động quá mức hay dưới mức tiềm năng.
Chính vì nền kinh tế thị trường luôn luôn gặp phải những vấn đề như tăng trưởng chậm, lạm phát cao, thất nghiệp,.kinh tế vĩ mô tập trung vào nghiên cứu mối quan hệ giữa 3 biến số này. Các nghiên cứu cho thấy giữa tăng trưởng và tổng sản phẩm và vấn đề thất nghiệp có mối quan hệ cố hữu với nhau. Tăng trưởng trưởng nhanh thì thất nghiệp giảm và ngược lại. Nhà kinh tế học Okun đã lượng hoá mối quan hệ này bằng quy luật Ohun.
Quy luật Okun cho thấy khi sản lượng thực tế lớn hơn sản lượng tiềm năng 2,5% thì tỷ lệ thất nghiệm giảm đi 1%. 23 Chương 2: Khái quát về kinh tế học vĩ mô Các nhà kinh tế cũng đã tìm ra trong ngắn hạn lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Muốn giảm lạm phát thì hầu như các quốc gia đều phải thu hẹp sản xuất làm cho thất nghiệp cao hơn và ngược lại. Tuy vậy trong dài hạn cho đến nay người ta chưa tìm thấy lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ nào.
Sau khi nghiên cứu song chương này, người học cần phải nắm được lý thuyết và sử dụng lý thuyết để giải quyết các bài tập giả định dưới các dạng như: - Phân biệt các yếu tố tác động đến tổng cầu, tổng cung của nền kinh tế, và biểu thị sự tác động đó trên đồ thị tổng cung, tổng cầu. - Hiểu ý nghĩa và cách xác định tỷ lệ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát, chỉ số giá và mức giá chung. - Vận dụng quy luật Okun để dự đoán tỷ lệ tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp, khi biết các yếu tố còn lại. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C U CỦA KINH TẾ HỌC VĨ MÔ 2.
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học Vĩ mô Kinh tế vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế Quốc dân. Những vấn đề then chốt được kinh tế học Vĩ mô quan tâm nghiên cứu bao gồm mức sản xuất, thất nghiệp, mức giá cả chung và cán cân thương mại của một nền kinh tế. Phân tích kinh tế vĩ mô hướng vào giải đáp câu hỏi: Điều gì quyết định giá trị hiện tại của các biến số này? Điều gì quyết định sự thay đổi của các biến số này trong ngắn hạn và dài hạn?. Nói một cách khác, kinh tế vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọn của mối quốc gia trước những vấn đề kinh tế và xã hội cơ bản như: Tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, xuất nhập khẩu hàng hoá và tư bản, sự phân phối nguồn lực và phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.
Một quốc gia có thể có những lựa chọn khác nhau tuỳ thuộc vào các ràng buộc về nguồn lực kinh tế và hệ thống chính trị – xã hội. Song sự lựa chọn đúng đắn nào cũng cần đến sự hiểu biết sâu sắc về các hoạt động mang tính khách quan về hệ thống kinh tế. Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô Trong khi phân tích các hiện tượng và mỗi quan hệ kinh tế quốc dân, kinh tế vĩ mô sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích cân bằng tổng thể. Theo phương pháp này, kinh tế vĩ mô xem xét sự cân bằng đồng thời của tất cả các thị trường, của thị trường hàng hoá, thị trường các yếu tố đầu vào, thị trường tài chính.
xem xét đồng thời khả năng cung cấp sản lượng của toàn bộ nền kinh tế, khả năng tiêu dùng của toàn bộ nền kinh tế, từ đó xác định đồng thời mức giá cả và sản lượng cân bằng của nền kinh tế. Đây là nhân tố quyết định đến hiệu quả của hệ thống kinh tế. Thực chất việc khảo sát mỗi biến số này trong những khoảng thời gian khác nhau hiện tại, ngắn hạn, dài hạn. Mỗi khoảng thời gian đòi hỏi chúng ta phải sử dụng các mô hình thích hợp để tìm ra các nhân tố quyết định đến các biến số kinh tế vĩ mô này.
Kinh tế học vĩ mô sẽ cung cấp 24 Chương 2: Khái quát về kinh tế học vĩ mô những kiến thức và công cụ phân tích kinh tế thích hợp. Những kiến thức và công cụ phân tích này đã được đúc kết từ nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học kinh tế thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Ngoài ra kinh tế vĩ mô còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu, phân tích phổ biến như tư duy trừu tượng, phân tích thống kê số lớn, mô hình toán và đặc biệt là các mô hình kinh tế lượng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong phân tích kinh tế vĩ mô. HỆ THỐNG KINH TẾ VĨ MÔ 2.
Mô tả h thống kinh tế Vĩ mô Có nhiều cách mô tả hoạt động của một nền kinh tế, theo cách tiếp cận hệ thống, thì nền kinh tế được xem như là một hệ thống gọi là hệ thống kinh tế vĩ mô. Hệ thống này theo nhà kinh tế học P.A Samuelson mô ta được đặc trưng bởi 3 yếu tố: Đầu vào, đầu ra và hộp đen kinh tế vĩ mô (1). Các yếu tố đầu vào gồm: Những tác động từ bên ngoài của một nền kinh tế bao gồm chủ yếu là các biến số phi kinh tế: Thời tiết, dân số, chiến tranh,. Những tác động từ chính sách của Chính phủ ở mỗi quốc gia bao gồm: Các công cụ của Nhà nước nhằm điều chỉnh hộp đen kinh tế vĩ mô, hướng vào các mục tiêu đã định trước.