chương I tìm hiểu về chuyển hóa vật chất và năng lượng, chương IV tìm hiểu về sinh sản ở TV và ĐV. Mỗi chương được trình bày theo cấu trúc phần A - Hoạt động sinh lý ở TV; phần B - Hoạt động sinh lý ở ĐV. Để HS nhận thức được quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh sản có ở TV và ĐV, đồng thời có thể so sánh rút ra những đặc điểm chung có ở từng hoạt động sinh lý giữa TV và ĐV. Mỗi hoạt động sinh lý ở cơ thể TV và ĐV đều được nghiên cứu dựa trên mối quan hệ giữa cấu tạo và chức năng.
Quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng ở cơ thể trong SGK được viết tách rời thành hai phần: phần A (CHVC&NL ở TV); phần B (CHVC&NL ở ĐV). Nội dung của chương tìm hiểu các chức năng sinh lý trao đổi chất của cơ thể dựa trên cấu trúc. Mỗi hoạt động sống được giải thích dựa trên cấu trúc tương ứng của cơ quan, hệ cơ quan. Ví dụ: Nghiên cứu giai đoạn thu nhận thức ăn bằng cách tìm hiểu hoạt động của cơ quan 14 z tiêu hóa dựa trên cấu trúc của ống tiêu hóa.
Cấu tạo của cơ quan, hệ cơ quan là cơ sở để tìm hiểu các hoạt động sống ở cơ thể. Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở cấp cơ thể về bản chất quá trình diễn ra như ở trong tế bào nhưng phạm vi diễn ra ở cơ quan hoặc hệ cơ quan. Quá trình chuyển hóa ở cấp cơ thể được tính từ dạng vật chất được hấp thụ vào cơ thể, nhờ hệ mạch vận chuyển đến tất cả các tế bào trong cơ thể, tại các tế bào xảy ra quá trình chuyển hóa, sau cùng là vận chuyển các chất dư thừa, độc hại ra ngoài. Quá trình chuyển hóa diễn ra trong tế bào đã được học ở lớp 10, quá trình chuyển hóa ở cấp cơ thể sẽ tìm hiểu từ gian bào đến mô cho tới các cơ quan hệ cơ quan.
Ví dụ: quá trình CHVC&NL ở cơ thể được nghiên cứu từ thức ăn ở môi trường ngoài được cơ thể hấp thụ, vận chuyển đến các tế bào làm nhiệm vụ biến đổi, sau đó sản phẩm dư thừa, độc hại của quá trình biến đổi được vận chuyển ra ngoài môi trường. Quá trình biến đổi diễn ra trong tế bào (diễn biến tổng hợp, phân giải) đã được tìm hiểu ở cấp tế bào - lớp 10 nên ở cấp cơ thể không trình bày lại. Chương IV – Sinh sản, một đặc trưng cơ bản của cơ thể sống, là quá trình tạo ra cơ thể mới, truyền lại đặc điểm di truyền cho thế hệ sau, giúp duy trì sự tồn tại và phát triển của loài. Nội dung chương được nghiên cứu trong 8 bài, trong đó 2 bài tìm hiểu về sinh sản ở TV, 4 bài tìm hiểu về sinh sản ở ĐV, 1 bài thực hành và 1 bài ôn tập chương II, III, IV.
Mỗi nội dung được nghiên cứu lần lượt ở TV đến ĐV, sau khi tìm hiểu nội dung tương ứng ở mục ĐV có thể so sánh đối chiếu tìm ra điểm tương đồng. Thường trong một loài cũng có những hình thức sinh sản khác nhau mà cấp cơ thể đa bào lại bao gồm nhiều loài rất xa nhau, nên chắc chắn hình thức biểu hiện là rất phong phú. Nhưng ở đây ta đang xét quan điểm cấp độ tổ chức của cơ thể đa bào nên sau khi hình thành những nội 15 z dung về sinh sản ở TV, ĐV cần chỉ ra điểm chung của sinh sản, còn những điểm chỉ có ở TV hay chỉ có ở ĐV coi là những điểm riêng cần được chú ý. Biện pháp hướng dẫn học sinh học 1.
Khái niệm hướng dẫn học sinh học Quá trình dạy học là một hệ thống bao gồm nhiều nhân tố với vị trí và chức năng khác nhau. Trong quá trình vận động và phát triển thì mỗi nhân tố đều phát huy tác dụng của mình. Song hoạt động dạy và hoạt động học là hai nhân tố trung tâm. Dạy - học hiện nay là dạy theo hướng phát huy tính tích cực của HS.
Nghĩa là: thầy thực hiện chức năng tổ chức, điều khiển, chỉ đạo còn trò thực hiện chức năng tự tổ chức, tự điều khiển quá trình nhận thức. Như vậy, để HS tự tổ chức và tự điều khiển quá trình nhận thức đi đúng hướng thì vai trò của thầy giáo trong việc hướng dẫn HS học là rất quan trọng. Bởi thầy giáo có tổ chức, điều khiển và chỉ đạo đúng hướng thì trò mới tự chiếm lĩnh được tri thức theo mục tiêu giáo dục. Như vậy, cần phải hiểu bản chất của hướng dẫn học là như thế nào? Hướng dẫn HS học có nghĩa là GV đóng vai trò là người định hướng, tổ chức và chỉ đạo giúp người học tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, thông qua đó hình thành và phát triển nhân cách của họ.
Hướng dẫn HS học phải theo đúng quan điểm chỉ đạo của Bộ, nghĩa là theo quan điểm xây dựng chương trình của Bộ Giáo dục đã đề ra, khi hướng dẫn HS học Sinh học 11 theo quan điểm cấp độ cơ thể nên sử dụng các biện pháp để HS có thể tự mình chỉ ra được điểm tương đồng giữa TV và ĐV. Ta đã biết, mục đích của hoạt động dạy - học cuối cùng là hình thành tri thức khoa học, phát triển nhân cách cho trò. Tuy nhiên, phương pháp để đi đến tri thức khoa học là rất quan trọng. Mỗi loại tri thức khoa học khác nhau cần biện pháp để chiếm lĩnh khác nhau.
Ví dụ, tri thức thuộc lĩnh vực 16 z văn học cần biện pháp hình thành kiến thức khác với tri thức toán học. Do vậy, mỗi một môn học hay nội dung khác nhau sẽ có những biện pháp hướng dẫn học khác nhau. Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc, các thao tác có thể nhằm từ những điều kiện nhất định ban đầu tới một mục đích định trước. GV có thể sử dụng phương pháp để nhồi nhét thông tin hoặc khơi dậy ý thức tự giác hay hướng dẫn quá trình học tập.
Mục đích của dạy học là tạo cho trò khả năng năng động, sáng tạo, tích cực học tập. Tri thức là phương tiện khơi dậy niềm hứng thú cho HS. Chúng ta đang thực hiện quá trình cải cách giáo dục, trong dạy học GV cần chú ý sử dụng biện pháp kỹ thuật nào để mang lại mục tiêu giáo dục. Khối lượng tri thức của nhân loại ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội, trong khi đó thời gian học trên lớp của trò không thay đổi.
Do đó, GV cần quan tâm đến phương pháp và biện pháp giảng dạy nhằm khơi dậy niềm hứng thú của HS để trò có động cơ thúc đẩy tính tự giác, tích cực học tập và rèn luyện, biết cách tìm ra chân lí. Như vậy, dạy học chính là hướng dẫn quá trình học tập, không phải là mang tri thức sẵn có của nhân loại truyền đạt cho HS trong khi họ không có chút nỗ lực nào cả, hướng dẫn học phải giúp học trò tự phát hiện và nâng cao khả năng sáng tạo của học trò. Trong hướng dẫn HS học chương CHVC&NL, sinh sản theo cấp cơ thể GV nên lựa chọn các biện pháp để HS có thể tìm được điểm tương đồng giữa TV và ĐV. Các biện pháp hướng dẫn học Như đã biết, hoạt động học không chỉ giới hạn trong một không gian, thời gian cố định.
Hoạt động học có thể là ở trên lớp, trên thư viện hoặc ở nhà. Trong hoạt động học thì học trên lớp giúp GV có thể hướng dẫn được tất cả các HS trong lớp. Việc xác định các biện pháp dạy học cần dựa vào 17 z mục tiêu, nội dung bài học. Từ mục tiêu xác định các nội dung dạy học và các biện pháp để hình thành được các nội dung đó.
Trong dạy học, có nhiều phương pháp để hướng dẫn HS học, tuy nhiên lựa chọn biện pháp nào lại phụ thuộc vào mục tiêu và nội dung dạy học. Trong hướng dẫn học, lựa chọn các biện pháp qua các khâu: thứ nhất: xác định lôgic bài học; thứ hai: lựa chọn các biện pháp kĩ thuật như câu hỏi, bài tập, phiếu học tập.; thứ ba: tổ chức dạy học trên lớp bằng các biện pháp kĩ thuật theo lôgic DH đưa ra. * Biện pháp lôgic Tư duy là đặc trưng của hoạt động nhận thức. Khi nói đến tư duy, chủ yếu muốn đề cập đến hai con đường lôgic là quy nạp và diễn dịch.
Trong DH, tùy vào nội dung bài học để GV xác định lôgic DH cho hợp lí. - Quy nạp Suy luận quy nạp là suy luận trong đó kết luận là tri thức chung được khái quát từ các tri thức ít chung hơn. Trong bất kì lĩnh vực khoa học hay thực tiễn nào, nhận thức bao giờ cũng bắt đầu từ kinh nghiệm. Qua kinh nghiệm con người phát hiện ra bản chất, các thuộc tính riêng lẻ của các sự vật và hiện tượng riêng lẻ.
Từ các thuộc tính của các sự vật và hiện tượng riêng lẻ con người khái quát hóa và rút ra các tri thức chung, có tính quy luật về các lớp sự vật giống nhau. Phương pháp nhận thức cái chung qua cái đơn nhất, cái riêng là phương pháp quy nạp của suy luận gọi là suy luận quy nạp. Trong dạy học Sinh học 11 theo quan điểm cấp độ cơ thể. Những đặc điểm về CHVC&NL, sinh sản ở TV, ĐV là những đặc điểm riêng lẻ ở từng giới.
Sử dụng suy luận quy nạp để xác định điểm tương đồng giữa TV và ĐV bằng cách hình thành những khái niệm, quá trình, quy luật về 18 z CHVC&NL, sinh sản ở TV, ĐV sau đó rút ra điểm tương đồng về khái niệm, quá trình, quy luật giữa TV và ĐV. Quy nạp là lôgic tư duy đi từ việc nhận thức các sự việc riêng lẻ đến việc nhận thức cái chung. Quy nạp bắt đầu từ việc tích lũy những hiểu biết của nhiều sự kiện và hiện tượng cùng loại. Nhờ so sánh, phân tích các nhóm đối tượng cùng loại mà người ta phát hiện được các dấu hiệu và thuộc tính chung của chúng.
Quy nạp chỉ có kết quả khi đã tích luỹ được đầy đủ các sự kiện qua quan sát, thực nghiệm. Quy nạp cần thiết cho quá trình hình thành những khái niệm. Ví dụ: để hình thành khái niệm sinh sản, từ những ví dụ cây lúa hình thành từ hạt lúa, lợn con được sinh ra từ cơ thể lợn mẹ, cua đứt càng mọc càng mới, số gà trong đàn tăng lên 10 con do được mua thêm.