Luận văn nghiên cứu xây dựng tài liệu hướng dẫn công nghệ thuộc da phục vụ công tác chuyên môn về công nghệ thuộc da cho cán bộ kỹ thuật của các cơ sở thuộc da việt nam

Luận văn nghiên cứu xây dựng tài liệu hướng dẫn công nghệ thuộc da, hỗ trợ cán bộ kỹ thuật tại các cơ sở thuộc da Việt Nam nâng cao chuyên môn.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Da - Giầy

Chuyên ngành

Công nghệ thuộc da

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học

2010

212
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Công nghệ thuộc da

Công nghệ thuộc da là quá trình biến đổi da động vật thành sản phẩm có giá trị sử dụng cao. Tài liệu này cung cấp hướng dẫn chi tiết về các phương pháp và kỹ thuật thuộc da hiện đại, phù hợp với điều kiện sản xuất tại Việt Nam. Các bước chính bao gồm chuẩn bị da, thuộc da, hoàn thành ướt và hoàn thành khô. Mỗi công đoạn được phân tích kỹ lưỡng, kèm theo các phương pháp kiểm tra chất lượng và khắc phục lỗi thường gặp.

1.1. Chuẩn bị da

Chuẩn bị da là bước đầu tiên trong quy trình thuộc da, bao gồm các công đoạn như hồi tươi, tẩy lông, ngâm vôi và làm mềm. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng da như pH, nhiệt độ và thời gian được đề cập chi tiết. Phương pháp tẩy lông - ngâm vôi được phân tích kỹ, kèm theo các lỗi thường gặp và giải pháp khắc phục.

1.2. Thuộc da

Thuộc da là quá trình sử dụng các chất thuộc như Crôm, Nhôm và tanin để ổn định cấu trúc da. Tài liệu trình bày lý thuyết và phương pháp thuộc Crôm, Nhôm, cùng với các chất thuộc thảo mộc. Các phương pháp thuộc một bể và hai bể được so sánh, kèm theo các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thuộc da.

II. Kỹ thuật thuộc da tại Việt Nam

Kỹ thuật thuộc da tại Việt Nam đã được cải tiến đáng kể nhờ áp dụng công nghệ hiện đại và kinh nghiệm sản xuất thực tế. Tài liệu này cung cấp hướng dẫn chi tiết về các quy trình thuộc da phổ biến tại Việt Nam, kèm theo các phương pháp kiểm tra chất lượng và xử lý lỗi. Các vấn đề môi trường liên quan đến công nghệ thuộc da cũng được đề cập, nhằm đảm bảo sản xuất bền vững.

2.1. Quy trình thuộc da

Quy trình thuộc da tại Việt Nam bao gồm các bước như chuẩn bị da, thuộc da, hoàn thành ướt và hoàn thành khô. Mỗi bước được hướng dẫn chi tiết, kèm theo các phương pháp kiểm tra chất lượng và khắc phục lỗi. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thuộc da như pH, nhiệt độ và thời gian được phân tích kỹ lưỡng.

2.2. Xử lý chất thải

Xử lý chất thải là vấn đề quan trọng trong công nghệ thuộc da. Tài liệu trình bày các phương pháp xử lý chất thải rắn, lỏng và khí, nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường. Các hệ thống xử lý nước thải và khí thải được đề cập chi tiết, kèm theo các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm.

III. Đào tạo cán bộ kỹ thuật

Đào tạo cán bộ kỹ thuật là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất. Tài liệu này cung cấp kiến thức cơ bản và kinh nghiệm thực tế về công nghệ thuộc da, phục vụ công tác đào tạo cán bộ kỹ thuật tại các cơ sở thuộc da Việt Nam. Các phương pháp đào tạo tại chỗ và đào tạo chuyên sâu được đề cập, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của ngành.

3.1. Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo cán bộ kỹ thuật bao gồm các nội dung như lý thuyết thuộc da, kỹ thuật sản xuất và kiểm tra chất lượng. Các phương pháp đào tạo tại chỗ và đào tạo chuyên sâu được phân tích, kèm theo các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cần thiết.

3.2. Kinh nghiệm thực tế

Kinh nghiệm thực tế là yếu tố quan trọng trong đào tạo cán bộ kỹ thuật. Tài liệu cung cấp các bài học kinh nghiệm từ quá trình sản xuất thực tế, kèm theo các phương pháp khắc phục lỗi và nâng cao chất lượng sản phẩm.

01/03/2025
Luận văn nghiên cứu xây dựng tài liệu hướng dẫn công nghệ thuộc da phục vụ công tác chuyên môn về công nghệ thuộc da cho cán bộ kỹ thuật của các cơ sở thuộc da việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. DA NGUYÊN LIỆU 1. Giải phẫu và mô học da động vật Da động vật là một lớp da bao bọc bên ngoài cơ thể sống của động vật. Ngoài chức năng bảo vệ cơ thể trước tác động cơ học, da động vật còn có các chức năng như điều hòa nhiệt độ cơ thể, thải bỏ các chất không thích hợp ra khỏi cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm nhập của vi khuẩn, điều hòa lượng nước, là cơ quan xúc giác của cơ thể.

Với một số loài vật có lớp da không dày, lớp vẩy sừng hay lông đóng vai trò quan trọng, với một số loài thì chỉ có mật độ và độ bền của lớp da đóng vai trò bảo vệ cơ thể. Da động vật được tạo nên từ các lớp chính như sau: - Trên bề mặt là lớp biểu bì. - Lớp cật là thành phần chính của da gồm có hai lớp: lớp trên có cấu tạo sợi mịn, liên kết chặt chẽ tạo mặt cật cho da và lớp dưới (còn gọi là lớp bì phu) có cấu trúc mạng lưới, độ dày lớn hơn lớp trên và là phần chính tạo độ bền cơ học cho da. Giữa hai lớp này là lớp trung gian giữa bì phu và lớp cật.

- Lớp bạc nhạc (các tổ chức dưới da). Lớp biểu bì Ống lông Chân lông Tuyến mồ hôi Lớp cật Lớp trung gian giữa bì phu và lớp cật Lớp bì phu Tổ chức dưới da (lớp bạc nhạc) Hình 1: Cấu tạo da động vật Thành phần hóa học của da gồm: nước, protein, chất béo và một vài muối khoáng. Protein là thành phần chính tạo nên da thuộc. Protein có hai loại: - Protein có cấu trúc sợi: là thành phần chính của da, quyết định tính chất cơ học và lý học của da.

Có 3 nhóm chính là: collagen, elastin và keratin. - Protein không có cấu trúc sợi: globumin, albumin. 1 Bảng 1: Thành phần của da tươi sau khi lột mổ Thành phần Tỷ lệ % (khoảng) Nước 55-70 Chất béo 1,5-2,5 Muối khoáng 0,3-0,7 Thành phần khác (pigment…) 0,3-0,7 Protein 31-35 - Protein cấu trúc sợi: + Elastin: sợi vòng trong bó sợi colagen 0,2-0,4 + Colagen: tạo nên da thuộc 28-30 + Keratin (tạo nên lông, biểu bì) 1-3 - Protein không có cấu trúc sợi: + Albumin, globulin 0,5-1,5 1. Amino axít Thành phần cơ sở tạo nên protein là amino axít.

Đó là hợp chất hữu cơ có chứa Nitơ, có thể coi là các monome trong tổng hợp sinh học của protein. Cấu trúc hóa học của amin axít: R | H2N – Cα – COOH | H Có 21 amin axít cơ bản, được chia thành các nhóm chức khác nhau. Amin axít trong nước có điện tích dương hay âm phụ thuộc vào pH: OH O- O- | | | | C=O C=O C=O | -H+ | + OH- | + + H3N – C – H H3N – C – H H2N – C – H | | | + H+ + H+ R R R Khi cho thêm proton H+ (thí dụ: axít hóa), sẽ cản trở sự ion hóa nhóm cacboxyl, tạo cho amin axít ở dạng cation. Trong môi trường kiềm xảy ra hiện tượng ngược lại, amin axít có dạng anion.

2 H H | | H2N – C – COO- + HX + - + X H3N – C – COOH | | R R H H | | 1. Peptid Amin axít liên kết với nhau, tạo nên peptid, polypeptid và protein nhờ mối liên kết peptid -CONH-. Cơ chế của tổng hợp sinh học rất phức tạp. Về mặt hóa học có thể viết như sau: H H H O H | | | || | H2N – C – COOH H2N – C – COOH H2N – C – C – N – C – COOH | + | | | | H CH3 H H CH3 Dipeptid Dipeptid + Amin axít -> tripeptid + (amino axít)n -> polypeptid -> Protein.

Khi dưới 10 amin axít kết hợp với nhau, tạo oligopeptid, trên 10 amin axít đến 10.000 tạo polypeptid, trên 10. Hình 2: Mạch polypeptid 3 1. Liên kết của protein Liên kết của protein tạo nên: - Phản ứng covalent: liên kết ion, liên kết hydro. - Phản ứng không covalent.

Protein có cấu trúc sợi được phân thành: collagen, elastin và keratin. Colagen là thành phần chính tạo nên da thuộc. Khi đun nóng colagen trong nước, nó sẽ biến đổi cấu trúc, có mức sắp xếp phân tử kém ổn định hơn, gọi là giê-la-tin. Nhiệt độ mà ở đó collagen bắt đầu co lại gọi là nhiệt độ co (Ts).

Elastin là thành phần quan trọng của protein, có độ đàn hồi lớn tương tự sợi cao su chưa được lưu hóa. Khi thuộc da, cần loại bỏ sợi elastin để giải phóng các sợi collagen tạo cấu trúc rỗng, tránh da bị bó cứng lại. Keratin không thể coi là một loại protein đồng nhất mà có nhiều dạng sinh học khác nhau, có tính chất chung là không tan trong nước, có mối liên kết disulfid trong phân tử. Keratin là thành phần chính của lông và biểu bì.

Nước trong da Nước là thành phần không thể thiếu của protein để trong cơ thể sống thực hiện quá trình sinh học cần thiết. Trong protein có cấu trúc sợi, colagen giữ lượng nước lớn, các protein khác (keratin, elastin) giữ lượng nước nhỏ hơn, có ái lực thấp hơn đối với nước. Ở trạng thái cân bằng với nước khi pH = 5 - 7, mỗi loại collagen chứa lượng nước khác nhau. Bảng 2: Tỷ lệ nước của protein có cấu trúc sợi ở trạng thái cân bằng Protein Tỷ lệ nước trong 1 gam khô (%) Protein Colagen 200 25 Elastin Myosin 300 40 Keratin Reticular 30 32 Fibroin Nước ở trạng thái liên kết (hydrat) chiếm khoảng 1/3 lượng nước thành phần ở trạng thái cân bằng collagen - nước.

Chất béo Chất béo tự nhiên phần nhiều ở trong tế bào mỡ dưới da. Đó là Triglycerid của axít béo.OCR3 R: axít béo phân tử lượng lớn. Ở điều kiện bình thường tẩy mỡ bằng chất kiềm loại bỏ khoảng 10% lượng mỡ tự nhiên. Mỡ trong da chủ yếu được loại bỏ khi tẩy lông - ngâm vôi.

Pigment Thành phần hóa học của pigment trong da ít được nghiên cứu. Lượng pigment cũng chỉ khoảng 0,3 - 0,5% trong da động vật. Chất vô cơ Da khô chứa khoảng 1% chất vô cơ. Chủ yếu là muối kim loại kiềm Na, K, kim loại kiềm thổ Ca, Mg và kim loại khác Al, Fe, Cu, Ni, Si và một số á kim như S2-, P4+.

Thành phần tro của da là như trong bảng sau: Bảng 3: Lượng kim loại trong da bò Kimloại Na K Ca Mg Cu Zn Fe Cr Mn Li Sr g/g da x 25,6 6,6 69,6 45,7 6,2 6,5 13,1 4,9 0,4 0,1 0,2 10-6 1. Da nguyên liệu Da động vật sau khi lột mổ là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất da thuộc làm đồ dùng hàng ngày nhờ các tính chất hiệu dụng của nó. Da thuộc ngày càng được sử dụng nhiều hơn với chất lượng và hình thức không ngừng tiến bộ. Da bò, da trâu Da bò là nguồn nguyên liệu quan trọng nhất để sản xuất da thuộc, chiếm khoảng 70% tổng lượng da nguyên liệu.

Bò nuôi với mục đích khác nhau nên da bò cũng có tính chất khác nhau. Tuy nhiên, sự phân loại không dựa trên cơ sở này. Chủ yếu phân loại theo khối lượng, giống và chất lượng da. Ở một số nước, da bò được phân loại theo khối lượng như sau: Bảng 4: Phân loại da theo khối lượng Loại Khối lượng (kg) 1 15 - 19 2 20 - 24 3 30 - 34 4 38 - 39 5 40 - 44 6 45 - 54 7 55 trở lên Da bò có cấu trúc sợ nhỏ, mịn.

Các bó sợi colagen kết hợp chặt chẽ. Bò nuôi lấy thịt có cấu trúc lỏng lẻo và nhiều mỡ hơn. Bò nuôi lấy sữa có phần cật mỏng hơn nhưng diện tích tấm da lớn hơn và ít mỡ hơn. Da trâu dày hơn, nhưng nhăn hơn ở cổ, cấu trúc sợi thô và lỏng lẻo hơn da bò.

Da bò tươi có khối lượng nhỏ hơn 14 kg thì không phân loại theo giống mà gọi là da bò nhỏ (da bé). Theo chất lượng, da bò được chia thành 5 loại tùy theo mức độ khuyết tật của da (kích thước, số lượng, vị trí). Không tính để phân loại với các khuyết tật sau: - Vết dao nhỏ ở mặt thịt, sâu dưới 20% bề dày của da. - Vết dao hay vết thủng ở mép da, không quá 5cm cách mép.

5 Tổng vết không quá 5. - Lông bị bẩn nhưng không ảnh hưởng đến mặt da. - Lột mổ: Khi lột mổ cần chú ý những điểm sau đây: - Chỉ lột da sau khi con vật đã chảy hết máu. Máu còn lại trong da làm da dễ bị hư hỏng và có màu sẫm.

Khi chưa lột sạch sẽ, chưa mổ lấy nội tạng. - Không để vết dao phạm sâu vào tấm da, da không bị thủng, rách. Dao lột phải có đầu tròn. Nên dùng dao có bộ phận ngăn lưỡi dao phạm sâu vào da.

Hình 3: Các tư thế lột mổ da trâu, bò - Không có nhiều thịt, mỡ, bầy nhầy trên tấm da. - Tấm da khi trải ra phải bằng phẳng và thành hình con da. - Treo con vật lên móc hoặc đặt lên mễ cao, tránh cát, nước bẩn bám vào da. Với da trâu, bò tiến hành rạch các đường sau: - Rọc một đường thẳng giữa họng từ cố đến ngang dưới đuôi.

6 - Rọc da ở 4 chân kể từ háng con vật dọc theo chiều hướng của chân (2 chân trước dọc phía trước, 2 chân sau dọc ở phía sau). - Rọc nối liền 2 vết dọc của 2 chân trước, cắt ngang qua lần rọc ở bụng (gần sát đuôi). - Từ các lần rọc trên, tuốt dần tấm da ra khỏi thân con vật, phải lột kỹ cho sạch mỡ, thịt, bầy nhầy và không để dao phạm sâu vào da. - Cắt bỏ 4 chân ở phía trên khuỷa chân (đầu gối).

- Các vết rạch ở đầu như hình vẽ. Hình 4: Các đường cắt cơ bản khi lột mổ da trâu, bò 1. Da lợn Trong công nghiệp thuộc da, nguồn nguyên liệu da lợn đứng ở vị trí quan trọng thứ hai sau da bò, trâu. Lượng da lợn ngày càng tăng do nhu cầu tiêu thụ thịt lợn trên thế giới.

Da lợn có cấu trúc đặc biệt. Lông mọc (xuyên sâu đến gần lớp trong bạc nhạc da) thành từng nhóm 3 lỗ. Đặc biệt da lợn chứa nhiều mỡ, cả ở trong da và lớp dưới da. Phần mông da chai cứng, nhưng phần bụng lại lỏng lẻo, cổ, lưng có nhiều vết nhăn.

Mặt cật da lợn dẽ bị hư hại nên thường được sử dụng mặt trái làm da nhung. 7 Lột mổ: Chỉ lột da khi khối lượng lợn đạt trên 40kg/con. Có thể lột mổ cả con hay chỉ phần lưng. Các đường rạch để lột mổ như trong hình vẽ.

Da lợn được phân theo 3 loại chất lượng chứ không phân theo khối lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Hướng dẫn công nghệ thuộc da cho cán bộ kỹ thuật tại Việt Nam là tài liệu chuyên sâu cung cấp kiến thức và kỹ thuật hiện đại trong lĩnh vực thuộc da, nhằm nâng cao năng lực cho các cán bộ kỹ thuật. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ quy trình thuộc da từ cơ bản đến nâng cao mà còn chia sẻ các phương pháp tối ưu hóa hiệu quả sản xuất, đảm bảo chất lượng sản phẩm và giảm thiểu tác động môi trường. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho những ai đang làm việc trong ngành công nghiệp da liên quan tại Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp giảng dạy kỹ thuật, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hcmute vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun máy điện 1, một tài liệu chi tiết về cách tiếp cận dạy học hiệu quả trong lĩnh vực kỹ thuật. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hcmute dạy học tích hợp mô đun sửa chữa bảo dưỡng cơ cấu trục khuỷu thanh truyền cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu sâu hơn về phương pháp dạy học tích hợp trong ngành công nghệ ô tô.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên môn mà còn giúp bạn tiếp cận các phương pháp giảng dạy và ứng dụng kỹ thuật hiệu quả, từ đó nâng cao chất lượng công việc và đào tạo.