CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 1.TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử phát triển của phương pháp dạy học theo Dự án trên thế giới Phương pháp DHTDA có nguồn gốc từ Châu Âu thế kỉ XVI ở Ý và Pháp. Cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, DHTDA được các nhà sư phạm Mỹ (John Dewey, William Heard Kilpatrick,.) xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án và được xem đó là phương pháp dạy học (PPDH) quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống; và được đưa vào sử dụng chủ yếu trong dạy học tích hợp các mô đun Kĩ thuật. Cùng với sự ứng dụng ngày càng rộng rãi, các dự án dạy học sau đó được sử dụng ở hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội.
Ngày nay PPDHTDA được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương tây. Phương pháp DHTDA là một trong những PPDH mới được thực hiện trong vài thập kỷ gần đây, chủ yếu trong các trường THPT và Đại học ở các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Canada,.và là một trong những PPDH hướng vào người học, tích cực hóa người học. Các công trình nghiên cứu đã được công bố của các nhà nghiên cứu như sau: + William Heard Kilpatrick nhà sư phạm Mỹ với bài viết“Phương pháp dự án“ (Theproject method) công bố 1918. Ông đã miêu tả chi tiết về DHTDA3.
+ Regie Stites (Viện Nghiên cứu quốc tế SRI, Mỹ) đã phân tích hiệu quả của DHTDA trên một số đối tượng người học nhất định4. Wolff (Đại học Bang Oregon, Mỹ) đã đưa ra 32 kiểu môi trường học tập tự nhiên đặc trưng thích hợp cho dạy học hợp tác và DHTDA ở bậc Cao đẳng cộng đồng5. William Heard Kilpatrick (1918), The Project Methode, Teachers College, (Record 19), trang 319 - 334. 4 Regie Stites, “Evaluation of Project Based Learning.
What does research say about outcomes from project-based learning? ”, SRI International.D, “Relationships among People and Spaces: Design Features for the Optimal Collaborative, Project - Based Learning Experience “, Oregon State University.com/Research/Wolff/Project_Leaming.htm Luan van 6 + Viện nghiên cứu giáo dục Buck (USA) tổ chức đào tạo và xuất bản sổ tay hướng dẫn các GV trung học tích hợp DHTDA vào chương trình học. + Tổ chức Phát triển giáo dục Quốc gia (USA): Cuốn Gắn kết các mảnh nhỏ (2000) bao gồm một chương về “Dạy học theo dự án và công nghệ thông tin”. + Cách tiếp cận dự án: Trang web được duy trì bởi Sylvia Chard, Giáo sư trường Đại học Alberta (Canada) và đồng tác giả cuốn kích thích óc tư duy của trẻ: Cách tiếp cận dự án (2000). Quá trình lịch sử nổi bật của dạy học theo dự án được chia thành 5 giai đoạn như sau6: + Từ 1590 - 1765: Khởi đầu SV được làm việc theo dự án tại các học viện kiến trúc Châu Âu.
+ Từ 1765 - 1880: dự án đã trở thành một PPDH và lan tỏa ở khắp nước Mỹ. + Năm 1880 - 1915: Dự án được làm việc ở trường kỹ thuật và các trường học công. + Năm 1915 - 1965: Định nghĩa DHTDA và đưa DHTDA từ Mĩ quay lại Châu Âu. + Từ 1965 - nay: Làn sóng thứ 3 PPDA được lan rộng trên quốc tế 1.
Lịch sử phát triển của dạy học theo Dự án ở Việt Nam Ở Việt Nam, các đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp từ lâu đã được sử dụng trong đào tạo Đại học trước hết là các Trường Đại học Kỹ thuật. Hiện nay các bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận thực hiện trong các Trường Đại học rất gần gũi với DHTDA. Trong lĩnh vực lý luận, DHTDA bước đầu được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây. Cụ thể một số kết quả nghiên cứu ở Việt Nam như sau: Từ năm 2004, DHTDA được Bộ Giáo dục và Đào tạo kết hợp với tập đoàn Intel triển khai thí điểm tại 20 trường học thuộc 9 tỉnh thành trên cả nước trong chương trình (Intel Teach to the Future, Teach Essentials, Teach Elements) nhằm giúp các GV khối phổ thông trở thành những nhà sư phạm hiệu quả thông qua việc hướng dẫn họ cách thức đưa công nghệ vào bài học, cũng như thúc đẩy kĩ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và kĩ năng hợp tác đối với học sinh.
Năm 2005, Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường, chương trình hội thảo tập huấn“Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới”. Tháng 6 Michael Knoll, The Project Method: Its Vocational Education Origin and International Development, University of Bayreuth, Volume 34, Spring 1997, Number 3. ch/en/Project-based_learning Luan van 7 5/2006 chương trình hội thảo của Việt - Bỉ, “Nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV Tiểu học và Trung học cơ sở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”. Tập đoàn Microsoft đã triển khai chương trình PIL (Partners in learning) tập huấn cho các GV về một số phương pháp dạy học thế kỉ XXI, trong đó có phương pháp DHTDA.
Đầu năm 2009, để hỗ trợ các tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện tốt đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy và học tích cực, dự án Việt - Bỉ đã triển khai nhiều hoạt động nhằm phát triển, nâng cao năng lực sư phạm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo về dạy và học tích cực cho giáo viên, trong đó DHTDA cũng được chú trọng và giới thiệu chi tiết. Gần đây nhất vào tháng 10 năm 2012, chương trình đào tạo GV hướng tới việc nâng cao chất lượng dạy và học ở cấp trung học cơ sở tại 5 tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam (Thái Nguyên, Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam và Quảng Ngãi) thông qua việc hỗ trợ thúc đẩy Dạy học tích cực. VVOB (VVOB là Tổ chức Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ Kĩ thuật vùng Fla - măng, Vương quốc Bỉ, một tổ chức phi lợi nhuận. Đại diện cho chính phủ vùng Fla-măng và chính phủ Vương quốc Bỉ) hỗ trợ các trường Cao đẳng/Đại học Sư phạm tại năm tỉnh này trong việc điều chỉnh cách đào tạo, đảm bảo SV có được năng lực cần thiết để trở thành những thầy cô dạy học theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm.
Đồng thời, VVOB cũng hỗ trợ các trường trong việc phát triển tài liệu cho dạy học tích cực. Công nghệ thông tin và Giáo dục môi trường được coi là phương tiện thích hợp để khởi động quá trình này. Dạy học theo dự án được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, nghiên cứu sinh, giáo viên của các bậc học khác nhau từ giáo dục phổ thông, đào tạo nghề, cao đẳng đại học trên cả nước quan tâm nghiên cứu: Tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo, “DHTDA và vận dụng trong đào tạo GV trung học cơ sở môn Công nghệ”,luận án Tiến sĩ giáo dục học, Hà Nội, 2009. Trong luận án, tác giả đã khái quát hóa và làm sáng tỏ vấn đề liên quan đến lý luận DHTDA.
Tác giả đã xây dựng tiến trình DHTDA trong đào tạo GV môn Kinh tế gia đình và vận dụng DHTDA trong đào tạo GV môn Công nghệ. Nguyễn Như Khương, “Áp dụng DHTDA vào quá trình dạy học môn Giáo dục học ở trường Đại học Sư Phạm Kĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ giáo dục học, TP. Nội dung luận văn của tác giả đã vận dụng DHTDA để phát huy tính tích cực, độc lập của SV có sự hỗ trợ của đa phương tiện, đặc biệt là công nghệ Luan van 8 thông tin và thiết kế một số dự án học tập lý thuyết cho môn học Giáo dục học của SV trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật - Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Kim Nhụy (2012),“Vận dụng phương pháp DHTDA cho Công nghệ lớp 12 tại trường THPT Trần Văn Ơn Tỉnh Bình Dương", luận văn thạc sĩ giáo dục học, trường Đại học sư phạm kỹ thuật TP.
Tác giả đã vận dụng DHTDA để phát huy tư duy phê phán, kĩ năng học tập hợp tác và đã thiết kế được hai dự án học tập vào môn Công nghệ 12 của trường THPT Trần Văn Ơn tỉnh Bình Dương. Phạm Hồng Bắc,“Kinh nghiệm đưa DHTDA vào dạy học Hóa học vô cơ Trung học phổ thông có hiệu quả”, tạp chí Giáo dục số 282 (kỳ 2-3/2012), trang 42. Tác giả đã đưa ra những kinh nghiệm về DHTDA đó là cách lựa chọn chủ đề, việc chọn nhóm và cách trình bày sản phẩm của dự án trong môn học Hóa học vô cơ trung học phổ thông có hiệu quả. Lê Khoa, “Tổ chức DHTDA một số kiến thức Vật lý về sản xuất điện năng ở trường Trung học phổ thông”, tạp chí Giáo dục số 290 (kỳ 2 -7/2012), trang 52.
Tác giả đã xây dựng qui trình DHTDA với 4 giai đoạn, 03 dự án và bộ câu hỏi định hướng cho HS. Thực nghiệm 3 dự án trên và kết quả HS đã biết vận dụng kiến thức đã học được vào việc thiết kế, chế tạo máy phát điện và phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo trong học tập đồng thời hình thành năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề. Các đề tài trên đã nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học theo Dự án, thực trang dạy và học các mô-đun tại các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề đồng thời tiến hành thực nghiệm sư phạm. Ngoài ra, các tác giả còn đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả của việc tổ chức dạy học như: Biên soạn nội dung dạy học trong các môn học/mô-đun theo hướng “tiếp cận kỹ năng”, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của giáo viên, trang bị bổ sung đầy đủ và kịp thời (phương tiện dạy học) trang thiết bị dụng cụ, nguyên vật liệu cho kịp theo yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học.
Tuy nhiên, việc đổi mới phương pháp dạy học là một quá trình lâu dài, phức tạp và rất nhiều khó khăn nó đòi hỏi cả người dạy và người học phải phấn đấu không ngừng, kiên quyết từ bỏ những thói quen, kinh nghiệm đã có từ lâu đời trong dạy học. Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng việc tiến hành đổi mới phương pháp dạy học đã đem lại nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có nhiều đề tài nghiên cứu đã quan tâm đến sự phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Cho đến nay, các trường học trong Luan van 9 cả nước nói chung và đặc biệt là các trường đào tạo nghề tiếp tục hưởng ứng và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học đã góp phần nâng cao chất lượng cho nền giáo dục Việt Nam.