Chương 1 khái quát tình hình nghiên cứu về hợp tác văn hoá – xã hội trong quan hệ quốc tế nói chung, hợp tác văn hóa – xã hội của Mỹ đối với ASEAN nói riêng. Từ đó, rút ra các nhận xét về những điểm mà luận án kế thừa cũng như những điểm mà luận án cần làm rõ thêm hoặc bổ sung mới. Chương 2: Cơ sở lý luận Chương này phân tích những cơ sở lý luận liên quan đến đề tài như các khái niệm về hợp tác văn hoá – xã hội, ngoại giao văn hoá, ngoại giao công chúng, và các lý thuyết nghiên cứu quan hệ quốc tế có liên quan đến hợp tác văn hoá – xã hội; để từ đó xây dựng nên khung phân tích cho luận án. Đồng thời, chương này cũng trình bày và phân tích các nhân tố tác động đến hoạt động hợp tác văn hoá – xã hội của Mỹ đối với ASEAN từ năm 2009 đến năm 2020.
11 Chương 3: Nội dung chính sách và thực tiễn triển khai hợp tác văn hóa – xã hội của Mỹ với ASEAN Chương 3 phân tích nội dung chính sách hợp tác văn hóa – xã hội của Mỹ đối với ASEAN trên các phương diện như mục tiêu, nội dung cơ bản, biện pháp thực hiện chính. Đồng thời, Chương 3 cũng trình bày và phân tích quá trình Mỹ triển khai các chương trình hợp tác văn hoá – xã hội trong quan hệ với ASEAN trên các lĩnh vực và vấn đề khác nhau. Chương 4: Nhận xét và dự báo về hoạt động hợp tác văn hoá – xã hội của Mỹ với ASEAN Chương 4 gồm những nhận xét về kết quả Mỹ triển khai hoạt động hợp tác, qua đó đánh giá tác động của các chương trình hợp tác văn hoá – xã hội với ASEAN. Thêm vào đó, Chương 4 sẽ dự báo các kịch bản vận động của sự hợp tác này trong tương lai.
Ngoài ra, Chương 4 cũng đề xuất các khuyến nghị chính sách cho Việt Nam. Đóng góp của Luận án Có thể khẳng định luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về hoạt động hợp tác văn hoá – xã hội của Mỹ với ASEAN giai đoạn 2009 – 2020. Vì vậy, luận án có đóng góp mới cả về khoa học, thực tiễn và tư liệu. Về khoa học, luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống về thực tiễn triển khai hoạt động hợp tác văn hoá – xã hội của Mỹ với ASEAN từ năm 2009 đến năm 2020; góp phần chỉ ra được nhân tố tác động đến hoạt động hợp tác văn hoá – xã hội của Mỹ với ASEAN, đưa ra được những luận điểm đánh giá lại sự hợp tác này một cách khách quan và toàn diện hơn; từ đó đánh giá tác động của các chương trình, sáng kiến hợp tác và đề xuất khuyến nghị chính sách dành cho Việt Nam.
Về thực tiễn, luận án gợi mở một số khuyến nghị chính sách dành cho Việt Nam trong quan hệ hợp tác văn hoá – xã hội với Mỹ. 12 Về tư liệu, luận án đã tập hợp, hệ thống hoá tư liệu và cung cấp tương đối phong phú những thông tin và tư liệu về thực tiễn triển khai hoạt động hợp tác văn hoá – xã hội của Mỹ đối với ASEAN; và sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo quan trọng cho những ai quan tâm đến vấn đề mang tính thời sự này. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về hợp tác văn hoá – xã hội trong quan hệ quốc tế Sự kiện Thế chiến thứ II chấm dứt kéo theo quá trình đối đầu về ý thức hệ giữa khối tư bản và khối xã hội chủ nghĩa.
Nhiều quốc gia bắt đầu chuyển đổi hướng phát triển, kinh tế được cải cách và sợi dây liên kết giữa các quốc gia cũng bắt đầu được nối lại. Từ đây, một quốc gia mạnh hay yếu không đơn thuần chỉ phụ thuộc vào sức mạnh quân sự hay chính trị, mà dựa trên sức mạnh tổng hợp của quốc gia, trong đó những yếu tố thuộc về văn hoá – xã hội, và các yếu tố thuộc về tinh thần dân tộc góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng nên một khối sức mạnh tổng hợp và hợp tác văn hoá – xã hội, có tác động không nhỏ tới cục diện quan hệ quốc tế. Đây được xem là tiền đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu về vai trò của văn hoá – xã hội như một nguyên nhân dẫn đến xung đột hay hợp tác trong quan hệ quốc tế. Trong các nghiên cứu ban đầu về những nhân tố quyết định đến xung đột hay hợp tác giữa các quốc gia, Maurice A.
East và Phillip M. Gregg (1967) có công trình nghiên cứu với tiêu đề “Factors influencing cooperation and conflict in the international system” (Những yếu tố ảnh hưởng tới hợp tác và xung đột trong hệ thống quốc tế), đăng trên tờ International Studies Quarterly, Vol. Bên cạnh những yếu tố mà các tác giả nêu ra như hành động quốc tế, tình hình quốc tế thì điều kiện trong nước là yếu tố tác động không nhỏ ảnh hưởng đến sự hợp tác hay xung đột trong quan hệ đối ngoại [East , M. Trong đó, cấu trúc xã hội (social structure) là một trong bốn biến chính cấu thành nên những điều kiện trong nước, quyết định tới hành động của một quốc gia trong hệ thống quốc tế, mà theo như tìm hiểu của Richard Rosecrance thì “có mối tương quan giữa bất ổn quốc tế và sự mất an ninh trong nước của giới tinh hoa” [Rosecrance, R.
Cũng nghiên cứu về các mối quan hệ xã hội trong quan hệ quốc tế, Peter A. Hall và Michelle Lamont (2013) trong nghiên cứu “Why Social Relations matter for politics and successful societies?” (Tại sao quan hệ xã hội lại quan trọng đối với chính trị và những xã hội thành công?), đăng trên Annual Review of Political Science, Vol 14 26(10), kết luận rằng các mối quan hệ xã hội chắc chắn sẽ mang lại những quan điểm, góc nhìn mới trong việc hoạch định chính sách. Theo Hall và Lamont, sự thay đổi kinh tế xã hội và chính sách mà các chính phủ theo đuổi ảnh hưởng rất nhiều tới các mối quan hệ xã hội quốc tế và ngược lại. Tuy nhiên, trong quá trình hoạch định chính sách, chính phủ và những nhà hoạch định chính sách thường chỉ tập trung vào việc liệu chính sách mới sẽ có ảnh hưởng như thế nào tới cấu trúc tổng thể của thị trường, mà bỏ qua câu hỏi liên quan tới tác động của chính sách đó tới cấu trúc của các mối quan hệ ở cấp độ quốc gia và quốc tế, cũng như các nguồn lực khác của xã hội.
Vậy nên, việc đi sâu tìm hiểu các mối quan hệ xã hội đối với chính trị, so sánh mối quan hệ giữa các quốc gia từ khía cạnh văn hoá – xã hội sẽ giúp các chính phủ trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại và tăng cường hợp tác lẫn nhau giữa các quốc gia [Hall, P. Khi nghiên cứu về hợp tác trên lĩnh vực văn hoá – xã hội giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế, tác giả Marie D. Strazar (1981) đã có bài viết “The San Francisco Peace Treaty: Cross – Cultural Elements in Interaction between the Americans and the Japanese” (Hiệp ước Hòa bình San Francisco: Yếu tố liên văn hóa trong tương tác giữa người Mỹ và người Nhật), đăng trong cuốn “Cultural factors in international relations” (Các yếu tố văn hoá trong quan hệ quốc tế) do Abhinav Publications xuất bản. Trong nghiên cứu này, thông qua trường hợp cụ thể về mối quan hệ giữa Mỹ và Nhật Bản, Hiệp ước Hòa bình San Francisco là minh chứng cho tác động lẫn nhau của các yếu tố văn hóa đồng thời là kết quả của việc cân nhắc lợi ích quốc gia của Mỹ và Nhật Bản.
Sự thống nhất của các lợi ích quốc gia, hay được thể hiện bằng ý chí đi đến một thỏa thuận, đã làm cho sự tương tác giữa các nền văn hóa của Mỹ và Nhật Bản liên quan đến Hiệp ước Hòa bình San Francisco trở thành một yếu tố bổ sung cho nhau. Tác giả kết luận rằng, khi có sự trùng khớp về mặt lợi ích quốc gia thì các yếu tố văn hoá dường như đối lập lại trở thành yếu tố bổ sung lợi ích và hỗ trợ qua lại cho nhau. Ngược lại, khi lợi ích quốc gia không trùng khớp và các bên liên quan không thực sự muốn đi tới một thỏa thuận, thì các yếu tố văn hoá, 15 hay chính là các yếu tố bổ sung lại trở thành sự va chạm của các mặt đối lập [Strazar, M. Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngoại giao văn hoá và lợi ích quốc gia có thể kể đến “Cultural diplomacy and the national interest: In search of a 21st-century perspective” (Ngoại giao văn hoá và lợi ích quốc gia: Tìm kiếm một cách nhìn trong thế kỷ XXI) của Bill Ivey và Paula Claggett (2005) đăng trên Arts Industries Policy Forum.
Công trình dài 45 trang này đã định nghĩa lại khái niệm ngoại giao văn hóa trong thế kỷ XXI, và xem xét quá trình thực thi ngoại giao văn hoá của Mỹ từ trước cho tới giai đoạn Chiến tranh lạnh. Công trình này còn chỉ ra những vấn đề đang phải đối mặt hiện nay, những sáng kiến, chính sách về ngoại giao văn hoá cần thiết cho các cơ quan chính phủ lẫn phi chính phủ, doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước, các tổ chức, cá nhân, những nhà lãnh đạo có thể dựa vào để khai thác những chuyển động mang tính toàn cầu, nhằm đưa ra những giải pháp để thực hiện mục tiêu quốc gia. Đáng chú ý trong công trình này là các tác giả đi vào tìm hiểu vai trò của khu vực tư nhân trong việc xuất khẩu văn hóa thông qua thương mại văn hóa (cultural trade), dựa trên sự phát triển của công nghệ, internet và sự bùng nổ của phương tiện truyền thông đại chúng [Ivey, B. Về nghiên cứu thực nghiệm có thể kể đến bài “Socio – cultural factors and international competitiveness” (Các nhân tố văn hoá – xã hội và cạnh tranh quốc tế) của Madara Apsalone và Erika Sumilo (2015) đăng trên tờ Business, Management and Education, sử dụng phương pháp phân tích mối quan hệ giữa 400 chỉ số văn hoá – xã hội và chỉ số cạnh tranh ở 37 quốc gia, đã đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá – xã hội đối với khả năng cạnh tranh quốc tế ở các nền kinh tế nhỏ và mở trong thời kỳ toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế [Apsalone , M.