Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của hợp tác kinh tế về năng lượng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Thực trạng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và LB Nga. Những đánh giá, triển vọng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam - LB Nga.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của hợp tác kinh tế về năng lƣợng trong bối cảnh toàn cầu hóa 1. Hợp tác kinh tế quốc tế và nhu cầu hợp tác năng lƣợng trong bối cảnh hiện nay Quan hệ kinh quốc tế là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia hay nói cách khác đó là tổng thể các mối quan hệ vật chất và tài chính, các mối quan hệ kinh tế, khoa học và công nghệ giữa các quốc gia. Liên kết kinh tế quốc tế Nhà Nước là những liên kết kinh tế được hình thành trên cơ sở các hiệp định được ký kết giữa hai hay nhiều chính phủ nhằm lập ra các liên minh kinh tế khu vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.
Một cách tổng thể, hợp tác kinh tế quốc tế là một hình thức trong đó diễn ra quá trình xã hội hoá có tính chất quốc tế đối với quá trình tái sản xuất giữa các chủ thể kinh tế quốc tế. Đó là sự thành lập một tổ hợp kinh tế quốc tế của một nhóm thành viên nhằm tăng cường phối hợp và điều chỉnh lợi ích giữa các bên tham gia, giảm bớt sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các bên và thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Liên kết, hợp tác kinh tế quốc tế được xem là mối quan hệ kinh tế vượt ra khỏi lãnh thổ của một quốc gia, được hình thành dựa vào sự thỏa thuận hai bên hoặc nhiều bên, ở tầm vĩ mô hoặc vi mô nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế và thương mại phát triển. Quá trình liên kết kinh tế quốc tế đưa tới việc hình thành một thực thể kinh tế mới ở cấp độ cao hơn với các mối quan hệ kinh tế quốc tế phức tạp và đa dạng.
Các bên tham gia liên kết 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh tế quốc tế có thể là các quốc gia hoặc các tổ chức, doanh nghiệp thuộc các nước khác nhau. Toàn cầu hóa là xu thế khách quan của nhân loại mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài. Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống và lĩnh vực năng lượng cũng không nằm ngoài quy luật này. Thật vậy, sự ràng buộc giữa các quốc gia về năng lượng ngày càng trở nên rõ ràng hơn khi mà hiện này mọi biến động (tăng, giảm giá sản phẩm hay sản lượng hàng năm, hay tình hình chính trị.) trên thị trường năng lượng đều tác động tới các nền kinh tế lớn nhỏ trên thế giới, không chỉ tới các nước nhập khẩu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.mà còn tới các nước xuất khẩu như Nga, Iran.
Chính vì vậy nhu cầu hợp tác trên thế giới để đảm bảo sự thống nhất giữa các quốc gia về chính sách trong lĩnh vực này nhằm tạo sự ổn định thị trường năng lượng thế giới là nhu cầu tất yếu, không thể thiếu trong thời đại hiện nay. Một số tổ chức quốc tế được lập ra đang điều hành và chi phối các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng như: Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC); IEA (Cơ quan Năng lượng Quốc tế); Hội đồng Năng lượng thế giới (WEC). Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay nhu cầu về năng lượng của xã hội ngày càng tăng trong khi các nguồn năng lượng tự nhiên sẵn có đang dần cạn kiệt; việc nghiên cứu, tìm kiếm các nguồn năng lượng mới vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế đòi hỏi sự đầu tư tích cực về vốn, lao động, công nghệ của xã hội; việc tranh giành các nguồn năng lượng trên thế giới ngày càng nghiêm trọng, đe dọa tới an ninh, hòa bình quốc tế. đã cho thấy năng lượng đang trở thành vấn đề có tính chất toàn cầu, nóng bỏng mà không quốc gia đơn lẻ nào - ngay cả đối với những nước được cho là cường quốc năng lượng thế giới, có thể tự giải quyết được nó đòi hỏi sự liên kết, phối hợp giữa các nước, khu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vực, thế giới.
Chính vì những lý do trên mà xu hướng hợp tác kinh tế quốc về năng lượng trở thành là xu hướng tất yếu hiện nay. Hợp tác giúp các nước có thể đảm bảo được nguồn cung năng lượng để phát triển, phát huy hết lợi thế so sánh và tận dụng được các nguồn lực bên ngoài để đầu tư, thúc đẩy nội lực bên trong; giảm chi phí khai thác và đầu tư công nghệ, nâng cao hiệu quả khai thác và sản xuất. Ngoài ra, hợp tác giữa các nước trên thế giới về năng lượng cũng tạo ra những cơ chế giúp đảm bảo sự ổn định, thống nhất trên thị trường năng lượng cũng như việc hoạch định các chính sách năng lượng hợp lý từ đó góp phần giảm nguy cơ xung đột, mâu thuẫn toàn cầu; tạo động lực hợp tác khoa học kỹ thuật, tìm kiếm các tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế. Các hình thức hợp tác năng lƣợng.
Theo lý thuyết thì có 6 hình thức kinh tế đối ngoại là hình thức hợp tác trong lĩnh vực sản xuất; hình thức hợp tác khoa học kỹ thuật; ngoại thương hay thương mại quốc tế; hình thức đầu tư quốc tế; hình thức tín dụng quốc tế; hình thức thu ngoại tệ và du lịch quốc tế. Hợp tác kinh tế trong lĩnh vực năng lượng về cơ bản cũng gói gọn trong 6 hình thức trên. - Hình thức hợp tác trong lĩnh vực sản xuất: Là hình thức hợp tác trong lĩnh vực sản xuất bao gồm gia công, xây dựng xí nghiệp chung, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất quốc tế các sản phẩm năng lượng. Nhận gia công các bộ phận, máy móc thiết bị năng lượng là một hình thức hợp tác hiệu quả, tận dụng được nguồn lao động, tạo nhiều việc làm và tận dụng công suất máy móc hiện có.
Muốn mở rộng việc nhận gia công cho nước ngoài phải nắm bắt tốt những nhu cầu sản xuất hàng hóa của thế giới. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về mặt pháp lý, xí nghiệp chung thường được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần với trách nhiệm hữu hạn tương ứng với số vốn góp của các thành viên. Các xí nghiệp này thường được ưu tiên xây dựng ở những ngành nghề kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay tạo điều kiện cho Nhà nước tiết kiệm ngoại tệ. Do phân công lao động quốc tế tất yếu dẫn đến hợp tác quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá, có thể là chuyên môn hoá giữa những ngành khác nhau hay chuyên môn hoá trong cùng một ngành.
Hình thức này làm cho cơ cấu kinh tế ngành của các nước tham gia đan kết, phụ thuộc lẫn nhau. - Hình thức hợp tác khoa học kỹ thuật: Hình thức này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như phối hợp nghiên cứu khoa học kỹ thuật, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân, chuyển giao công nghệ. Đối với những nước lạc hậu về kỹ thuật, phương tiện vật chất kỹ thuật còn thiếu, đội ngũ cán bộ mỏng, vốn đầu tư nghiên cứu ít thì việc hợp tác khoa học kỹ thuật có ý nghĩa rất quan trọng, giúp các nước này nhanh chóng rút ngắn khoảng cách lạc hậu về khoa học kỹ thuật với các nước phát triển. - Hình thức ngoại thương hay thương mại quốc tế trong lĩnh vực năng lượng là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ (các sản phẩm, thiết bị năng lượng như dầu mỏ, ga, than đá, các thiết bị trong các công trình năng lượng; dịch vụ thẩm định, thiết kế, xây dựng.) giữa các quốc gia.
Ngoại thương có vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với những quốc gia đang phát triển nhằm góp phần làm tăng của cải và sức mạnh tổng hợp của mỗi nước. Nó là một động lực của sự tăng trưởng kinh tế quốc dân, nâng cao trình độ công nghệ và ngành nghề trong nước, ―điều tiết thừa, thiếu‖ của mỗi quốc gia, tạo điều kiện giao dịch việc làm cho người lao 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động trong nước. - Hình thức đầu tư quốc tế là quá trình trong đó hai hay nhiều bên có quốc tịch khác nhau cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng nhằm đưa lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt đối với các nước nhận đầu tư.
Một mặt làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý, tạo việc làm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới. Mặt khác, đối với các nước kém phát triển, nó sẽ làm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp trong xã hội, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, tăng tính phụ thuộc vào bên ngoài. Có hai hình thức đầu tư quốc tế: Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử dụng quản lý vốn của bên đầu tư thông nhất với nhau, tức là bên có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả và rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận. Đầu tư trực tiếp được thực hiện dưới các hình thức như hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, xí nghiệp liên doanh.
Đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà quyền sử hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là bên có vốn đầu tư không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dưới dạng lợi tức cho vay hoặc lợi tức cổ phần. Trong các hình thức đầu tư gián tiếp thì vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) là bộ phận quan trọng nhất bao gồm các khoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi khác. - Hình thức cho vay tín dụng: Đây là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.