CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP TÁC PHÁT TRIỂN KINH TẾ KHU VỰC TAM GIÁC PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - LÀO - CAMPUCHIA 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về hợp tác quốc tế và hội nhập quốc tế 1. Khái niệm về hợp tác quốc tế và hội nhập quốc tế Hợp tác (Cooperation) đã tồn tại ngay từ đầu lịch sử loài người với sự hình thành các cộng đồng sơ khai như bầy đàn, công xã, thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc. Cho đến khi quốc gia và dân tộc hình thành, tức là xuất hiện chủ thể QHQT, hợp tác đã trở thành hợp tác quốc tế.
Hợp tác quốc tế là một hiện tượng xuyên lịch sử. Nó tồn tại trong mọi giai đoạn lịch sử bất chấp thế giới đầy rẫy xung đột và chiến tranh. Cho đến nay, hợp tác quốc tế đã trở thành xu thế lớn trong QHQT và lôi cuốn mọi quốc gia và con người khắp nơi trên thế giới cùng tham gia. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận với nhiều quan niệm khác nhau, song về cơ bản có thể đưa ra khái niệm chung về hợp tác quốc tế như sau: “Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hoà bình giữa các chủ thể QHQT nhằm thực hiện các mục đích chung”.
Hội nhập (Integration) là một hiện tượng lịch sử xuất hiện từ lâu với điển hình là sự hình thành các quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế xuất hiện muộn hơn nhiều. Cùng với sự phát triển QHQT, hội nhập quốc tế bắt đầu xuất hiện trong quan hệ giữa các quốc gia. Hội nhập quốc tế bắt đầu diễn ra từ nửa cuối thế kỷ XIX, tăng lên từ sau Chiến tranh Thế giới thứ I và đặc biệt mạnh mẽ sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh.
Cho đến nay, hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn trong đời sống quốc tế, chi phối mạnh mẽ mọi QHQT, ảnh hưởng sâu sẵc lên mọi quốc gia. So với hợp tác, quy mô phổ biến của hội nhập cũng hạn chế hơn nhiều khi không phải diễn ra ở khắp mọi nơi. Có thể nêu lên một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, hội nhập là một quá trình kết hợp các đơn vị riêng rẽ vào một chỉnh thể mới. Sự kết hợp này chính là sự vận động chủ yếu trong quá trình hội nhập.
Đối với hội 9 nhập quốc tế, các đơn vị ở đây chính là chủ thể QHQT, đặc biệt là quốc gia. Thứ hai, quá trình kết hợp nói trên dẫn đến sự hình thành chỉnh thể mới. Chỉnh thể ở đây là một hệ thống với cơ cấu riêng, luật lệ riêng và những tương tác liên quốc gia mới. Đó có thể là hình thức cộng đồng hay cơ quan liên quốc gia hoặc siêu quốc gia nào đó.
Thứ ba, khi tham gia vào chỉnh thể này, các quốc gia thường tự nguyện nhường một phần chủ quyền của mình cho chỉnh thể này. Việc san sẻ một phần chủ quyền nhằm đem lại quyền hành và tính hiệu lực cần thiết cho cơ cấu chung, đem lại cho hệ thống những đặc tính mới có lợi cho các thành viên. Thứ tư, động cơ thúc đẩy quốc gia tham gia hội nhập quốc tế chính là lợi ích cơ bản của quốc gia. Quốc gia không tham gia hội nhập nếu lợi ích quốc gia bị vi phạm.
Quốc gia cũng không tự nguyện nhường một phần chủ quyền nếu điều đó có hại cho lợi ích của mình. Từ các cơ sở trên, chúng ta có thể đi đến khái niệm hội nhập quốc tế như sau: “Hội nhập quốc tế là quá trình kết hợp các quốc gia riêng rẽ vào một trạng thái của chỉnh thể mới trên cơ sở đảm bảo lợi ích cơ bản của quốc gia”. Phân loại hợp tác và hội nhập quốc tế Sự phân loại hợp tác và hội nhập quốc tế giúp tìm hiểu các đặc tính khác nhau của hai hiện tượng, hai xu thế quan trọng này. Điều này càng có ý nghĩa hơn bởi đặc tính khác nhau quy định những tác động khác nhau trong QHQT.
Đầu tiên là sự phân loại hợp tác quốc tế. Có nhiều cách phân loại hợp tác, dưới đây là ba cách phân loại chính. + Cách phân loại thứ nhất phân chia dựa theo lĩnh vực hoạt động. Đó là các lĩnh vực lớn diễn ra những hoạt động chủ yếu của quốc gia.
Trong đó, hợp tác có thể là hợp tác kinh tế, hợp tác chính trị, hợp tác quân sự, hợp tác văn hoá… Đây là cách phân loại được sử dụng khá nhiều trong đời sống. hợp tác có thể được phân loại chi tiết hơn nữa trong những lĩnh vực chuyên môn cụ thể. + Cách phân loại thứ hai phân chia dựa theo quy mô không gian. Cách này thường chia hợp tác thành loại: hợp tác khu vực và hợp tác toàn cầu.
Trong thực tế hợp tác khu vực người ta còn sử dụng các thuật ngữ hợp tác liên khu vực để chỉ hợp tác giữa các tổ chức có quy mô địa lý vượt khỏi khuôn khổ khu vực truyền thống, 10 hợp tác tiểu khu vực để chỉ hợp tác giữa một số nước bên trong khu vực nào đó. Ví dụ, ASEM là hợp tác liên khu vực, hợp tác tiểu vùng sông Mê công là hợp tác tiểu khu vực. + Cách phân loại thứ ba căn cứ trên số lượng chủ thể tham gia. Theo cách này, có hai loại là hợp tác song phương giữa hai chủ thể và hợp tác đa phương với sự tham gia của từ ba chủ thể trở lên.
Ngoài ra, cũng dựa trên số lượng chủ thể tham gia, còn có cách gọi chi tiết hơn như hợp tác ba bên, hợp tác bốn bên,… Ví dụ, hợp tác Việt Nam - Thái Lan là hợp tác song phương, hợp tác giữa 10 nước trong ASEAN là hợp tác đa phương. Ngoài ra, còn một số cách phân loại khác dựa trên tính chất hay mục đích hợp tác. Ví dụ, hợp tác mở hay đóng, hợp tác lỏng hay chặt, hợp tác phát triển hay hợp tác an ninh… Tuy nhiên, các cách này không được sử dụng phổ biến mà thường chỉ dùng để nhấn mạnh tính chất hay mục đích nào đó của hợp tác. Thứ hai là sự phân loại hội nhập quốc tế.
Đối với hội nhập, sự phân loại cũng gần giống như trên. Chủ yếu hai cách đầu được sử dụng để phân loại hội nhập. Riêng cách thứ ba dựa theo số lượng chủ thể rất ít được áp dụng. + Cách phân loại thứ nhất phân chia dựa theo lĩnh vực: Hội nhập kinh tế, hội nhập chính trị.
Ngoài ra, còn có hội nhập tổng thể là hội nhập đồng thời đa lĩnh vực. + Dựa theo quy mô không gian, có hội nhập toàn cầu và hội nhập khu vực. + Ngoài ra, còn có cách phân chia hội nhập căn cứ theo mức độ liên kết. Béla Balassa (1928-1991) chia hội nhập ra làm 5 loại hay 5 giai đoạn hội nhập.
Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area): Bãi bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước thành viên với nhau. Liên hiệp thuế quan (Custom Union): Các nước thành viên cùng quy định mức thuế suất chung đối với các nước ngoài liên hiệp. Thị trường chung (Common Market): Tự do lưu thông các yếu tố như lao động, vốn… trong thị trường của các thành viên. Liên hiệp kinh tế (Economic Union): Hoà hợp các chính sách kinh tế giữa các nước thành viên.
Hội nhập kinh tế toàn bộ (Total Economic Integration): Thống nhất các chính sách kinh tế, thiết lập thể chế chung, mức độ hội nhập nhất định về chính trị. Ngoài ra, còn có cách phân loại chung. Đây là cách phân loại áp dụng đối với cả hợp tác và hội nhập. Xuất phát từ bản chất chung đều là hợp tác, cách phân loại này coi hợp tác và hội nhập là hai loại hình hợp tác khác nhau.
Trong đó, hội nhập là hình thức cao hơn với mức độ liên kết sâu sắc hơn, có tính ổn định và dài lâu hơn. Còn hợp tác là hình thức đơn giản hơn, ít sâu sắc hơn và theo vụ việc là chính. Cách phân loại này chủ yếu dùng trong nghiên cứu và đã bắt đầu được áp dụng nhiều trong thực tiễn. Nguyên nhân hợp tác và hội nhập trong QHQT + Hợp tác và hội nhập xuất phát từ mục đích tồn tại của con người và quốc gia.
Cuộc sống có quá nhiều mối đe doạ mà con người không thể đơn độc chống lại được. Thế giới ngày càng đối mặt với nhiều nguy cơ chung đe doạ sự tồn tại của nhân loại mà quốc gia không thể giải quyết riêng lẻ được. Vì sự tồn tại của mình, con người và quốc gia buộc liên kết thành nhóm hợp tác với nhau nhằm đảm bảo các nhu cầu cơ bản vì sự tồn tại của mình. + Hợp tác nhằm đáp ứng lợi ích phát triển.
Hợp tác chính là cách thức tương tác có lợi cho sự phát triển nhằm giúp phối hợp nguồn lực, thống nhất nỗ lực, nâng cao khả năng giải quyết các mục đích phát triển. Thực tế lịch sử cũng cho thấy, hợp tác gắn liền với phát triển. Hợp tác càng mở rộng, cơ hội và điều kiện phát triển càng nhiều hơn, khả năng thực hiện lợi ích phát triển càng lớn hơn. + Hợp tác và hội nhập giúp làm giảm xung đột và duy trì hoà bình, giúp làm giảm các khía cạnh tiêu cực của các nguyên nhân xung đột.
Hợp tác và hội nhập không chỉ có thể làm giảm mức độ mâu thuẫn mà còn là cách thức giải quyết mâu thuẫn bằng con đường hoà bình. Đó cũng là cố gắng khai thác sự đa dạng cho mục đích phát triển và giảm thiểu sự bất đồng. Hợp tác và hội nhập được thiết lập nhằm phối hợp nguồn lực, giải quyết mâu thuẫn trên con đường phát triển.2 Khía cạnh lý luận về hợp tác kinh tế và liên kết phát triển khu vực và tiểu vùng. Cơ sở của hợp tác và liên kết khu vực.
Yếu tố vị trí địa lý Xét về mặt địa lý, một khu vực thường được xác định như một nhóm quốc gia cùng nằm trong một vùng đặc thù về địa lý. Bởi thế, một sự hợp tác đa phương khu vực cũng phải có một không gian địa lý, một cộng đồng khu vực cũng phải nằm trong một khuôn khổ địa lý nhất định. Sự gần gũi về mặt địa lý được coi là tiền đề quan trọng của hợp tác đa phương khu vực bởi vì nó tạo nên mối quan hệ địa lý - nhân văn giữa các quốc gia, dân tộc trong vùng. Trên cơ sở đó, ý thức về địa bàn chung và môi trường chung, ý niệm và tình cảm khu vực được hình thành.