Chương 1 – Lý luận về hợp đồng lập hội Chương 2 – Pháp luật Việt Nam hiện nay về hợp đồng lập hội và một số kiến nghị 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG LẬP HỘI 1. Khái niệm, ý nghĩa, đặc điểm và phân loại của hợp đồng lập hội 1. Khái niệm, ý nghĩa và phân loại của hội Không thể phủ nhận vai trò và ý nghĩa to lớn của hội trong đời sống con người, nhất là trong nền kinh tế thị trường. Hội, xét chung trong tổng thể việc đáp ứng các nhu cầu sống của con người, là một trong những phương tiện quan trọng giúp con người thỏa mãn các nhu cầu đó [6, tr.
38] mà trong chúng bao gồm cả các nhu cầu về vật chất và các nhu cầu về tinh thần. Tuy nhiên bản chất pháp lý của hội vẫn còn là một vấn đề gây tranh luận. Có lẽ việc xem xét bản chất của hội trước hết bắt đầu từ việc phân loại hội. Với tính cách là một phương tiện chung nhằm đáp ứng các nhu cầu sống, nhưng do cách thức của sự đáp ứng từng loại nhu cầu có sự khác nhau, cho nên phản ánh về mặt hình thức (không trùng khít hoàn toàn), hội được chia thành hai loại cơ bản là hội có mục đích kinh tế và hội không có mục đích kinh tế.
Bộ luật Dân sự Đức năm 2002 có các qui định phân loại hội như vậy tại Điều 21 và Điều 22 để thiết lập qui chế thủ đắc năng lực pháp lý riêng biệt của từng loại hội. Các điều luật này có nội dung như sau: “Một hội mà mục tiêu của nó không phải là hoạt động thương mại thì có tư cách pháp lý bởi việc được ghi vào sổ đăng ký hội tại tòa án địa phương có thẩm quyền” (Điều 21); và “Một hội mà mục tiêu hoạt động của nó là hoạt động thương mại thì có tư cách pháp lý được cấp bởi tiểu bang, nếu không có các qui định đặc biệt của luật liên bang” (Điều 22). Cách phân loại này không giúp xác định được bản chất pháp lý của hội mà chỉ cho phép hiểu biết sự lựa chọn của nhà làm luật về cách thức cấp năng lực pháp lý cho hội. Xét từ căn cứ tạo lập nên hội, có thể chia hội thành hai loại là hội được tạo lập bởi hợp đồng và hội được tạo lập bởi pháp luật.
Tuy nhiên hội là một tổ chức phi chính phủ, nên việc pháp luật qui định về việc thành lập một hội cụ thể hay nhà nước quyết định thành lập hội mà không có sự tự nguyện tham dự của các thành viên là việc ít xảy ra. Vì thế về cơ bản hội mang bản chất 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp đồng. Vì vậy nhiều Bộ luật Dân sự của nhiều nước trên thế giới đều có chương nói về hội hay hợp đồng lập hội mà tại đó mô tả chung các đặc điểm pháp lý của hội. Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936 và Bộ luật Dân sự năm 1972 của Chính quyền Sài Gòn (cũ) theo mô hình Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 đều có một chương như vậy.
Tuy nhiên các chương như vậy trong các bộ luật của Việt Nam đều chủ yếu qui định về hợp đồng lập hội có mục đích kinh tế. Trong khi đó Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 có một chương nói về “hội” với tính cách là hợp đồng, sau đó mở rộng ra với tính cách là hành vi pháp lý (bao gồm cả hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương) bởi về sau này nhà làm luật chấp nhận hội thương mại có thể chỉ có một thành viên (là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hay công ty cổ phần một thành viên). Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931 định nghĩa: “Khế ước lập hội là khế ước do hai hay nhiều người đồng ý xuất tài sản chung nhau để lấy lợi mà chia nhau” (Điều thứ 1200). Các qui định này được sao chép nguyên văn vào Điều thứ 1425 của Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936.
Các định nghĩa này chưa làm rõ được nội hàm của khái niệm hợp đồng lập hội. Theo định nghĩa của hai bộ luật này, hai hay nhiều người cùng tiết kiệm bằng cách bỏ tiền cùng nhau gửi tiết kiệm rồi lấy tiền lãi chia nhau phải chăng cũng được xem là hợp đồng lập hội? Khắc phục những khiếm khuyết của định nghĩa trong hai bộ luật nêu trên, Bộ luật Dân sự năm 1972 đã chuyển hóa những đặc trưng của hội theo Điều 1832, Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 để định nghĩa hợp đồng lập hội như sau: “Khế ước lập hội là khế ước theo đó hai hay nhiều người đồng ý góp công, góp của để hoạt động với mục đích kiếm được lời cùng chia nhưng nếu thua lỗ cùng chịu” (Điều thứ 1264). Theo định nghĩa này, hợp đồng lập hội có các dấu hiệu như: (1) hai hay nhiều người cùng nhau góp vốn (có thể bằng công sức hoặc bằng tài sản); (2) hai hay nhiều người đó cùng nhau hoạt động trên căn bản sự góp vốn đó; (3) các hoạt động cùng nhau này phải nhằm mục đích sinh lời để chia nhau; và (4) nếu hoạt động chung này bị thua lỗ thì hai hay nhiều người đó phải cùng nhau gánh chịu. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu xét từ việc tổ chức hội, hợp đồng lập hội có thể được phân chia thành hai loại: Loại thứ nhất là hợp đồng tạo lập nên một hội nhất định; và loại thứ hai là hợp đồng gia nhập một hội nhất định.
Loại thứ nhất là một hợp đồng được giao kết giữa các thành viên sáng lập ra hội với nhau. Loại thứ hai là hợp đồng được giao kết giữa một thành viên gia nhập một hội nhất định với chính hội đó. Trong vụ Clarke v. Dunraven [1897], tòa án Anh cho rằng hai người cùng viết đơn xin gia nhập một hội vào hai thời điểm khác nhau (mà họ không hề quen biết nhau) cũng được coi giữa hai người có sự thỏa thuận.
Clarke và Dunraven đều viết đơn xin tham dự vào câu lạc bộ đua thuyền mang tên Mudhook Yacht Club, và cam kết tuân thủ các qui tắc của Yacht Club Association. Các qui tắc này qui định chủ nhân của con thuyền vi phạm qui tắc va chạm phải con thuyền khác có trách nhiệm bồi thường tất cả các thiệt hại phát sinh. Thuyền của Clarke va chạm vào thuyền của Dunraven. Vụ kiện xảy ra.
Tòa phúc thẩm Anh Quốc và House of Lords phán quyết rằng có quan hệ hợp đồng tồn tại giữa những người tham dự cuộc đua thuyền. Vì vậy Clarke phải bồi thường Dunraven bởi vi phạm hợp đồng. Án lệ này áp dụng cho vụ Rayfield v. Tòa ra phán quyết rằng sự đăng ký của một thành viên vào hợp đồng và điều lệ công ty không chỉ tạo ra sự thỏa thuận giữa thành viên và công ty, mà còn tạo ra sự thỏa thuận giữa thành viên đó với những người đăng ký khác [26, p.
Như vậy được xem là sự thỏa thuận không đòi hỏi các bên phải biết về sự đồng ý của nhau đối các điều kiện của hợp đồng và không đòi hỏi các bên phải đồng ý các điều kiện của hợp đồng vào cùng một thời điểm [7]. Khái niệm về hợp đồng lập hội trong các Bộ luật Dân sự thuộc về loại thứ nhất. Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản hợp đồng lập hội là loại hợp đồng tạo lập nên một hội. Tuy nhiên các định nghĩa nêu trên mới chỉ nhằm tới các hội có mục đích kinh tế.
Vậy việc xây dựng một định nghĩa cho hợp đồng lập hội nói chung không kể hội có mục đích kinh tế hay không là một việc cần thiết trước hết để phân biệt hợp đồng lập hội với các loại hợp đồng khác, và sau đó để nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như xây dựng qui chế pháp lý cho loại hợp đồng này. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khảo sát Hội Sinh viên Việt Nam (một tổ chức có gần 1.000 nghìn hội viên đang sinh hoạt tại hơn 200 Hội Sinh viên trường, 21 Hội sinh viên tỉnh, thành phố, 50 Hội sinh viên cấp trường trực thuộc Trung ương và 05 Hội Sinh viên Việt Nam ở nước ngoài: Pháp, Hàn Quốc, Hà Lan, Đức, Bỉ) cho thấy: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội Sinh viên Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 29 đến 31/07/1955 với sự tham dự của 244 đại biểu chính thức và 255 đại biểu dự thính của các trường đại học, đại biểu sinh viên miền Nam và đại biểu lưu học sinh ở nước ngoài cùng nhau thông qua bản điều lệ, chương trình hoạt động và lời kêu gọi sinh viên toàn quốc, đồng thời bầu Ban Chấp hành Trung ương Hội để theo đuổi mục đích đoàn kết, thống nhất mọi lực lượng sinh viên trong Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam, cùng với thanh niên và nhân dân cả nước đấu tranh cho hòa bình, độc lập và thống nhất Tổ quốc, đòi thực hiện tổng tuyển cử do hai miền Nam, Bắc theo đúng tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ [29]. Các thông tin này nói lên rằng Hội sinh viên Việt Nam là sự thống nhất ý chí của những đại biểu sinh viên (những người sáng lập) có các mục tiêu chính trị, xã hội. Nội dung của sự thống nhất ý chí này thể hiện trong điều lệ của hội được thông qua tại đại hội.
Xét riêng dưới giác độ pháp lý, hợp đồng tạo lập ra hội này (hội không nhằm mục đích kinh tế) không có dấu hiệu hoạt động nhằm mục đích sinh lời để chia nhau như đối với hợp đồng lập hội có mục đích kinh tế, nhưng thay vào đó là dấu hiệu cùng nhau hoạt động nhằm mục tiêu chung (có thể là các mục tiêu chính trị, xã hội, văn hóa, từ thiện…). Riêng dấu hiệu cùng nhau chịu lỗ của hợp đồng lập hội có mục đích kinh tế thì không có dấu hiệu nào của hợp đồng lập hội không nhằm mục đích kinh tế thay vào bởi mục tiêu của các thành viên của hội không nhằm mục đích kinh tế không phải là bỏ công sức hoặc tiền của ra để đổi lại một món lợi tiền bạc lớn hơn mà thực sự là sự chi tiêu cho các nhu cầu có tính cách tinh thần. Tuy nhiên nếu hội (bất kể là hội nhằm mục đích kinh tế hay không) mà hoạt động trái mục đích và vi phạm pháp luật, thì chính hội với tính cách là một thực thể pháp lý riêng biệt phải chịu trách nhiệm. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.