Chương 1 Những vấn đề lý luận về Hợp đồng hôn nhân Hôn nhân, thành tố cơ bản tạo thành nền văn minh của một xã hội, là một cơ chế tự nhiên có trước khi nhà nước ra đời. Các nhà nước công nhận hôn nhân chứ không tạo ra hôn nhân. Hôn nhân là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội như luật học, nhân chủng học, xã hội học, văn hóa học, thần học.Do đó, trong Chương này, tác giả sẽ nghiên cứu một cách khái quát nhất về bản chất của hôn nhân nói chung và bản chất pháp lý của hôn nhân nói riêng. Từ đó, tác giải tiếp cận và giải quyết các vấn đề lý luận chung nhất về hợp đồng hôn nhân.
Bản chất pháp lý của hôn nhân 1. Một số quan niệm về hôn nhân 1. Một số quan niệm pháp lý về hôn nhân - Hệ thống Common Law Ở các nước theo hệ thống Common law, định nghĩa về hôn nhân được đưa ra trong phán quyết về vụ án Hyde & Hyde. Đây là một trường hợp mang tính bước ngoặt của Tòa di chúc và ly hôn Anh.
Trường hợp này được chấp nhận vào 20/3/1866 bởi thẩm phán Lord Penzance và thiết lập nên định nghĩa của Common law về hôn nhân. John Hyde (một Mormon người Anh) đã yêu cầu ly hôn với vợ của ông ấy là Lavinia vì tội ngoại tình. Sau đó, ông ấy đã rời khỏi Giáo hội và bắt đầu viết và xuất bản Anti-Mormon material (một tài liệu chống lại Mormon). Đó là một động thái khiến ông bị Giáo hội trừng phạt.
Vợ ông ấy đã rời bỏ ông ấy và sau đó tái hôn ở Utah Territory. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự kiện tụng của John Hyde [16]. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trích dẫn Warrender v. Warrender, Lord Penzance đã thấy rằng: các thiết chế ở nước ngoài (bao gồm hôn nhân) không được xem là có hiệu lực theo English Law trừ phi chúng giống với các thiết chế của Anh.
Về hôn nhân, English Law có thể không thừa nhận chế độ nhiều vợ nhiều chồng hoặc việc lấy vợ lẽ như là hôn nhân. Bởi vậy, ông ấy thấy rằng: theo truyền thống văn hóa, Tòa án không có đủ kiến thức để hình thành cơ sở cho các quyết định của Tòa án. Tòa án đã bác bỏ yêu cầu của Hyde [16]. Thẩm phán Lord Penzance đã tuyên bố: Tôi quan niệm rằng, hôn nhân, được hiểu theo đạo Cơ đốc, với mục đích này, có thể được định nghĩa như là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà [16].
Sau này, định nghĩa trên đã được thừa nhận rộng rãi trong hệ thống Common Law. Tuy nhiên, theo thời gian, nhận thức về “tính suốt đời” của hôn nhân có nhiều thay đổi. Ngày nay, vợ chồng có thể ly hôn nếu không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân. Dưới góc độ của người vợ, người chồng, hôn nhân được hiểu là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà để thiết lập một cam kết lâu dài và riêng biệt cùng nhau được hoàn thành một cách tự nhiên bằng việc sinh đẻ và nuôi nấng con cái.
Nhiều người cho rằng, hôn nhân gồm sự liên kết toàn diện giữa vợ chồng, mối liên kết đặc biệt với con cái, tiêu chuẩn về tính bền vững lâu dài, chế độ một vợ một chồng và riêng biệt [15, tr246]. Đối với một số người theo quan điểm xét lại, hôn nhân là sự liên kết giữa hai người (không phân biệt giới tính) cùng cam kết một tình yêu lãng mạn, chăm sóc lẫn nhau và chia sẻ gánh nặng cũng như lợi ích trong cuộc sống gia đình. Bản chất hôn nhân là sự liên kết giữa trái tim và lý chí [15, tr246]. Luật Hôn nhân của New Zealand định nghĩa hôn nhân là sự liên kết giữa hai người không phân biệt giới tính, thiên hướng tình dục và đặc điểm giới 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính của họ [17].
Luật Hôn nhân của Australia quy định: Hôn nhân là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà, tự nguyện ràng buộc suốt đời [25]. Hôn nhân tại Fiji là sự liên kết tự nguyện giữa một người đàn ông và một người đàn bà [18]. “Notes and Queries on Anthropology” định nghĩa: Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà, khi đó đứa trẻ sinh ra từ người đàn bà được thừa nhận là con hợp pháp của hai vợ chồng [23]. Tại Mỹ, quan niệm phổ biến cho rằng: Hôn nhân là một hợp đồng dân sự giữa hai người [22, RCW 26.
S Code định nghĩa về hôn nhân như sau: Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa người đàn ông và người đàn bà (hiện nay Mỹ đã công nhân hôn nhân đồng tính) với tư cách là vợ, chồng (Sec. California Family Code (Art 300a) định nghĩa: Hôn nhân là mối quan hệ cá nhân nảy sinh bằng một hợp đồng dân sự giữa hai người. - Hệ thống Civil law Hệ thống Civil law tồn tại quan niệm phổ biến cho rằng hôn nhân là một hợp đồng. Louisiana Civil Code định nghĩa: Hôn nhân là một mối quan hệ pháp lý giữa một người đàn ông và một người đàn bà được tạo bởi một hợp đồng dân sự [34, Art 86].
Các nước như Pháp, Đức, Bỉ và tỉnh bang Québec, không đưa ra một định nghĩa về hôn nhân trong Bộ luật Dân sự nhưng dành hẳn một chương quy định về hợp đồng hôn nhân và hợp đồng hôn nhân phải tuân theo các quy định như đối với hợp đồng. Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp quy định: Hợp đồng hôn nhân chứa đựng các thỏa thuận về hôn nhân, điều chỉnh các mối quan hệ vợ chồng, các thỏa thuận về tài sản mà vợ chồng xác lập khi họ thấy cần thiết (ngoại trừ những quy định trái với phong tục tốt đẹp và trật tự công). Vợ chồng không 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể có bất kỳ thỏa thuận hay từ chối nào làm thay đổi trật tự luật định về thừa kế. Vợ chồng có thể chỉ rõ luật áp dụng đối với chế độ hôn nhân của họ [32].
Tại Bỉ, hợp đồng hôn nhân được hiểu là một giấy tờ cho phép các cặp vợ chồng tương lai lựa chọn chế độ hôn nhân đặc biệt. Văn bản này phải được soạn thảo bởi một công chứng viên. Hợp đồng này cho phép các bên quy định các mối quan hệ về kinh tế và tài chính giữa vợ chồng, chứng minh sở hữu về tài sản, xác định cách thức quản lý tài sản của vợ chồng, nghĩa vụ tài chính của người này với người khác, thiết lập các quy tắc về chia sẻ kinh tế, sự tham gia của mỗi vợ chồng đối với các khoản nợ do một trong hai bên vợ chồng ký hợp đồng, thiết lập các quy tắc về số phận tài sản khi chấm dứt hôn nhân hoặc tặng cho giữa vợ chồng. Vợ chồng không bắt buộc phải ký kết một hợp đồng hôn nhân [31].
Bộ luật Dân sự tỉnh bang Québec (Canada) quy định: Hợp đồng hôn nhân cho phép thiết lập tất cả các quy định, ngoại trừ các quy định trái với các quy định bắt buộc của pháp luật và trật tự công [33]. Bộ luật Dân sự Cộng hòa liên bang Đức quy định: Với việc ký một hợp đồng hôn nhân, vợ chồng không những có thể quyết định về một chế độ hôn nhân thỏa thuận mà còn thay đổi những quy định cá nhân về chế độ hôn nhân riêng biệt [30]. - Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Luật Hôn nhân Trung Quốc không đưa ra một định nghĩa về hôn nhân nhưng quy định hôn nhân được hình thành trên cơ sở sự tự do lựa chọn, bình đẳng, không bị ép buộc giữa một người đàn ông và một người đàn bà [19]. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã có các quy định về thỏa thuận tài sản của vợ chồng (Điều 19 Luật Hôn nhân năm 1980 sửa đổi bổ sung năm 2001).
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Pháp luật Việt Nam không thừa nhận hôn nhân là một hợp đồng dân sự. Qua việc tìm hiểu một số quan niệm pháp lý về hôn nhân, có thể thấy rằng, quan niệm pháp lý về hôn nhân rất đa dạng và phong phú.
Mỗi hệ thống pháp luật, trường phái pháp luật có quan niệm khác nhau về hôn nhân. Nhưng tựu chung lại, các quan niệm về hôn nhân đều thừa nhận hôn nhân có các đặc trưng sau: (1) Sự liên kết đặc biệt giữa hai người; (2) Sự đồng thuận, thỏa thuận, ý chí chung của hai bên; (3) Sự tự nguyện, tự do, bình đẳng bày tỏ ý chí, nguyện vọng; (4) Làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự. Về cơ bản, các quan niệm đều đề cao sự thiêng liêng, ý nghĩa đặc biệt và vai trò quan trọng của hôn nhân trong xã hội. Sự khác biệt trong các quan niệm về hôn nhân nằm ở việc xác định hôn nhân là một hợp đồng hay không phải là một hợp đồng.
Hôn nhân trong Kitô giáo Trong đời sống hôn nhân, hai người nam và nữ hợp nhất với nhau kiến tạo mái ấm vững bền, đáp ứng cho nhau nhu cầu sinh lý trong yêu thương, từ đó sinh ra con cái. Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau, cũng như lợi ích của con cái buộc vợ chồng phải trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly. Chính mục đích này mà trong đời sống hôn nhân đã được Thánh Kinh trong Sáng Thế Ký xác định và thuật lại, nó xảy ra trong vườn địa đàng. Lý do tại sao Thiên Chúa phú ban một người nội trợ và cũng là bạn đường cho người đàn ông, là để nâng đỡ lẫn nhau và để trở nên bạn đồng hành.
"Người nam ở một mình không tốt. Ta sẽ làm cho nó một 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người trợ tá tương xứng với nó". Vì vậy, Thiên Chúa đã dựng nên một người nữ. Nhìn thấy người phụ nữ, Adam đã nói: "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!" Và Thánh Kinh đã kết luận: "Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt".