Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động trải nghiệm 1. Các khái niệm về hoạt động và hoạt động trải nghiệm 1. Khái niệm hoạt động - Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể).
- Trong mối quan hệ đó có 2 quá trình: quá trình đối tượng hóa và quá trình chủ thể hóa. + Quá trình đối tượng hóa (xuất tâm): Chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm hoạt động; tâm lý của con người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm. + Quá trình chủ thể hóa (nhập tâm): Là quá trình con người chiếm lĩnh (lĩnh hội thế giới). Như vậy trong quá trình con người tham gia, thực hiện hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói cách khác tâm lý, ý thức, nhân cách được bộc lộ, hình thành trong hoạt động.
Khái niệm hoạt động trải nghiệm - Nhà triết học Nga Solovyev V. cho rằng: “Trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế, là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng. Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [theo 41]. - Trong Bách khoa toàn thư “Trải nghiệm là tiến trình hay quá trình hoạt động năng động để thu thập kinh nghiệm, quá trình trải nghiệm phụ thuộc vào môi trường sống và cảm xúc cá nhân”.
- Trong lĩnh vực giáo dục: trải nghiệm là quá trình người học được tham gia các hoạt động thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng của bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội. HĐTN được biết đến với tư cách là một quan điểm giáo dục do David A. Kolb (nhà lý luận về giáo dục người Mỹ) đề xuất vào năm 1939, đến năm 1970, ông cùng Ron Fry phát triển thành lí thuyết trải nghiệm và năm 1984 ông xuất bản mô hình học tập theo lí thuyết trải nghiệm. Thực tế, quan điểm này đã được khơi nguồn trong các nghiên cứu về mô hình học tập của Jonh Deway, Kurt Lewin, Jean Piaget.
Từ việc kế thừa những ý tưởng cơ bản, David Kolb đã hoàn thiện 13 lí thuyết về “Học tập trải nghiệm” với những đặc điểm nổi bật: (1) Học tập được tiếp nhận tốt nhất là trong quá trình chứ không phải là kết quả (2) Học tập là một quá trình liên tục được khởi nguồn từ kinh nghiệm (3) Quá trình học tập đòi hỏi giải pháp cho những xung đột về sự thích nghi của các phương thức đối lập biện chứng về thế giới (4) Học tập bao gồm các tương tác giữa con người với môi trường (5) Học tập là quá trình tạo ra tri thức, là kết quả của các giao dịch giữa các kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân Như vậy, lí thuyết học tập trải nghiệm của David Kolb chính là: “Học tập là quá trình trong đó kiến thức được tạo ra từ sự chuyển đổi kinh nghiệm” [46]. Lý thuyết này đòi hỏi người học phải có những phong cách, khả năng học tập riêng phù hợp; đồng thời lý thuyết “Học tập trải nghiệm” của David Kolb nổi lên với tư cách là con người đã làm thay đổi tư duy giáo dục, đặc biệt là cụ thể hóa tư tưởng lấy học sinh làm trung tâm của Jonh Deway. Qua các khái niệm và quan điểm thể hiện trên, có thể hiểu HĐTN là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho HS tiếp cận thực tế, thể hiện các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học khác nhau để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai. Mục tiêu và đặc điểm của hoạt động trải nghiệm 1.
Mục tiêu của hoạt động trải nghiệm - Mục tiêu chung: HĐTN nhằm hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, các năng lực tâm lý – xã hội…; giúp HS tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình, làm tiền đề cho cá nhân tự tạo dựng được sự nghiệp và cuộc sống hạnh phúc sau này. - Mục tiêu cụ thể: + Bổ sung, mở rộng, củng cố tri thức; liên hệ kiến thức với thực tế cuộc sống và lao động. + Rèn luyện các kĩ năng cơ bản như quan sát, đo đạc, tính toán,. Các thao tác tư duy như phân tích, đối chiếu, so sánh, khái quát, nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động.
+ Tạo hứng thú cho HS trong hoạt động học tập. Hình thành cho HS niềm tin vào giá trị cuộc sống hiện tại và tương lai, có tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước. Có thái độ đúng đắn trước những vấn đề nhạy cảm được đặt ra, phát huy được những giá trị tốt đẹp, kiên quyết loại bỏ những cái xấu xa, nguy hại. Bồi dưỡng tính tích cực, 14 chủ động sáng tạo, sẵn sàng tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động tập thể, của trường và lớp cho HS.
+ Phát triển năng lực: giao tiếp, hợp tác, tự học và các năng lực đặc thù của bộ môn như nhận thức khoa học Địa lý, tìm hiểu đia lí, vận dụng kiến thức kỹ năng đã học 1. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm - Trải nghiệm là dấu hiệu cơ bản của hoạt động HĐTN là hoạt động được thực hiện phối hợp một cách hợp lý thông qua trải nghiệm để sáng tạo. HĐTN tạo cơ hội cho HS thâm nhập vào thực tiễn để kiểm nghiệm, tích lũy kinh nghiệm, từ đó có thể khái quát thành tri thức riêng cho bản thân. HĐTN đòi hỏi HS phải tích cực trong hoạt động, các em có cơ hội được trải nghiệm thực tiễn, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, được thể hiện năng khiếu bản thân, được tự đánh giá, tự khẳng định bản thân và khẳng định vai trò của nhóm, của bạn bè… - Nội dung của HĐTN mang tính tích hợp và phân hóa cao.
Nội dung của HĐTN rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: đạo đức, trí tuệ, kĩ năng sống, thẩm mĩ, thể chất, môi trường, lao động,.HĐTN giúp cho các nội dung giáo dục thiết thực hơn, gần gũi với cuộc sống thực tế hơn, giúp các em vận dụng kiến thức đã được học vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng thuận lợi hơn, đáp ứng được nhu cầu học đi đôi hành. HĐTN còn thể hiện tính phân hóa cao, HS được lựa chọn một số hoạt động chuyên biệt phù hợp với năng lực, sở trường, hứng thú của bản thân để phát triển năng lực sáng tạo riêng của mỗi cá nhân. Chính điều này làm cho HĐTN không những vừa mang tính tích hợp lại vừa mang tính phân hóa cao. - HĐTN được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng.
HĐTN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như trò chơi, hội thi, diễn đàn, giao lưu, tham quan du lịch, sân khấu hóa, thể dục thể thao, câu lạc bộ, tổ chức các ngày hội, các nghiên cứu khoa học kĩ thuật. Mỗi một hình thức đều có ý nghĩa giáo dục nhất định. Hình thức đa dạng, phong phú tạo sự hứng thú, hấp dẫn HS, tạo cho các em những hoạt động tự nhiên, sinh động hơn, nhẹ nhàng, không gò bó và khô cứng, đem lại hiệu quả giáo dục. - HĐTN mang tính sáng tạo: HĐTN trong giáo dục luôn phát huy tính tích cực, tự giác của HS, từ đó giúp HS khám phá và bộc lộ khả năng sáng tạo của bản thân.
Trong HĐTN, HS sẽ tham gia vào tất cả các hoạt động, được trải nghiệm thực tiễn, 15 qua đó các em có thể trình bày ý tưởng, suy nghĩ, hành động, được đánh giá và từ đó tạo nên sự tự tin vào chính bản thân. Thông qua các hoạt động nhóm, các em được thể hiện tinh thần trách nhiệm, tinh hợp tác, thể hiện được thế mạnh đồng thời cũng biết được hạn chế của từng cá nhân và tập thể nhóm, từ đó mà phát huy ưu thế và tiềm năng sáng tạo của từng thành viên và tập thể nhóm. - HĐTN đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. HĐTN cần thu hút được sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm lớp, GV bộ môn, cán bộ Đoàn, Ban giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, hội khuyến học, hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, doanh nghiệp ở địa phương,… Tùy nội dung, tính chất của từng hoạt động mà thu hút sự tham gia của các lực lượng giáo dục có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ về kinh phí, phương tiện, địa điểm tổ chức hoạt động, đóng góp về chuyên môn, hay sự ủng hộ về tinh thần,.
Điều này giúp cho HS được học tập, giao tiếp rộng rãi với nhiều lực lượng giáo dục, được lĩnh hội các nội dung giáo dục qua nhiều kênh khác nhau, với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Điều đó làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn và chất lượng, hiệu quả của HĐTN. - HĐTN giúp HS lĩnh hội được kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được. Mục tiêu quan trọng của quá trình dạy học là HS lĩnh hội được tri thức và vận dụng được tri thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn và phát triển nhân cách.
Điều này có thể thực hiện bằng nhiều con đường, nhưng con đường ngắn và hiệu quả chính là HS được trải nghiệm trong thực tiễn. Sự đa dạng trong HĐTN sẽ mang lại cho học sinh nhiều hiểu biết, nhiều vốn sống, tích lũy nhiều kinh nghiệm phong phú mà nếu chỉ ngồi trong lớp HS sẽ khó có thể có được. HĐTN là một phương thức học tập hiệu quả, nó giúp hình thành các năng lực cho người học.