đặt vấn đề phổ biến pháp luật. Pháp luật không thể là cái thuộc tính tuyên truyền vận động, ngược lại, bản thân pháp luật sẽ tự thực hiện chức năng của mình bằng các quy định về quyền và nghĩa vụ thông qua các chế tài đối với những người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh. Quan niệm thứ hai, đồng nhất hoặc coi phổ biến pháp luật là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức. Chỉ cần thực hiện tốt quá trình giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức là mọi người đã có ý thức pháp luật cao, có sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật.
Quan niệm này đã từng tồn tại trong một thời gian khá dài ở nước ta. Vì vậy, việc đào tạo chuyên ngành luật không được Nhà nước chú ý, dẫn đến hậu quả là các cơ sở đào tạo của ngành luật hầu như không có. Mãi đến năm 1979 mới có cơ sở chuyên ngành đào tạo các luật gia ở bậc đại học và đến những năm 1987- 1988, việc phổ biến pháp luật mới bắt đầu đưa vào chương trình giáo dục ở bậc phổ thông. Quan niệm thứ ba, coi phổ biến pháp luật đồng nhất với việc giáo dục các văn bản pháp luật.
Theo quan niệm này, việc phổ biến pháp luật thực chất 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉ là các đợt tuyên truyền, cổ động khi có văn bản pháp luật quan trọng mới ban hành như: Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự hoặc trước các kỳ bầu cử Quốc hội, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Các quan niệm nói trên có phần mang tính phiến diện, một chiều, chưa thấy hết đặc thù, sự tác động của phổ biến pháp luật, nên đã vô tình hoặc cố ý hạ thấp vai trò, giá trị xã hội của hoạt động phổ biến pháp luật. Bởi vì, bản thân pháp luật mới chỉ là văn bản qui phạm pháp luật, là mô hình ở dạng "tiềm năng". Pháp luật chỉ thực sự đi vào cuộc sống thông qua cơ chế điều chỉnh bao gồm các giai đoạn: Ban hành, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát.
Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, con người phải suy nghĩ, lựa chọn cách xử sự thể hiện qua hành vi. Đây là một quá trình tâm lý phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Ở giai đoạn này, qui phạm pháp luật có khả năng tác động lên ý thức của cá nhân như khuyến khích hành vi hợp pháp hoặc kìm chế hành vi bất hợp pháp. Do đó, việc phổ biến văn bản pháp luật mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để cá nhân hành động phù hợp theo yêu cầu của pháp luật.
Điều kiện đủ ở đây là cá nhân phải có ý thức pháp luật đúng đắn, ý thức đó phải được hình thành dưới sự tác động liên tục, thường xuyên của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan dẫn đến hành vi hợp pháp của cá nhân "cho nên công bố đạo luật này chưa phải đã là mọi việc đều xong, mà còn phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt" [37, tr. Để xác định đúng đắn khái niệm phổ biến pháp luật, trước hết cần là rõ các khái niệm có liên quan. - Về hoạt động tuyên truyền Hoạt động phổ biến pháp luật có liên quan chặt chẽ tới khái niệm về hoạt động tuyên truyền. Theo Đại từ điển Tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên nêu ra khái niệm tuyên truyền như sau: "Tuyên truyền là giải thích rộng rãi để thuyết phục, vận động mọi người làm theo" [53].
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa về tuyên truyền như sau: "Tuyên truyền là đem một việc gì nói để cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại" [38, tr. 162] - Quan niệm về giáo dục: Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình ảnh hưởng của nhiều điều kiện khách quan như: Môi trường sống, chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán. và sự tác động của nhân tố chủ quan như: Sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và định hướng của con người lên việc hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục.
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể giáo dục tác động lên khách thể giáo dục, nhằm đạt được các mục tiêu nhất định như: Truyền bá những kinh nghiệm trong sản xuất, trong đấu tranh; những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy để khách thể (hay đối tượng) có đủ khả năng tham gia vào đời sống xã hội. Trong thực tiễn, tuy thừa nhận ảnh hưởng của các điều kiện khách quan là to lớn đối với việc hình thành ý thức cá nhân con người, các nhà lý luận vẫn nhấn mạnh đến yếu tố tác động hàng đầu, cực kỳ quan trọng, thậm chí mang yếu tố quyết định của nhân tố chủ quan trong giáo dục. Vì thế, khái niệm giáo dục hiện nay thường được hiểu theo nghĩa hẹp. Từ những quan niệm trên, phổ biến pháp luật trước hết là một hoạt động mang đầy đủ tính chất chung của giáo dục, có nhiều nét tương đồng với hoạt động tuyên truyền nhưng nó cũng có những nét đặc thù riêng, phạm vi riêng để tác động lên ý thức con người.
Theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, phổ biến pháp luật được hiểu là: Con người nói chung là khách thể (hay đối tượng) chịu ảnh hưởng và tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để hình thành nên ý thức, tình cảm và hành vi pháp luật. Cơ sở của việc xây dựng khái niệm phổ biến pháp luật được xác định qua các yếu tố sau đây: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Mặc dù, sự hình thành ý thức con người là quá trình ảnh hưởng tác động thống nhất của các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan, những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và cả những nhà lý luận giáo dục đều phân biệt hai mặt của quá trình ấy. Tuy vậy, trong sự tác động, nhân tố của các điều kiện khách quan chỉ là những nhân tố ảnh hưởng còn nhân tố chủ quan là nhân tố tích cực mang tính tác động. Nhân tố ảnh hưởng có thể tác động theo chiều này hay chiều khác, còn nhân tố "tác động" bao giờ cũng là tự giác, có ý thức, có định hướng rõ ràng, cụ thể mà hoạt động giáo dục định hướng, có tổ chức, có chủ định của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội là yếu tố hàng đầu.
- Khái niệm phổ biến pháp luật theo nghĩa hẹp còn có ý nghĩa trong việc phân biệt phạm trù phổ biến pháp luật với phạm trù ý thức pháp luật. Hai phạm trù này có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một. Hoạt động phổ biến pháp luật, đó chính là sự tác động của nhân tố chủ quan mà trước hết là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định thành một hệ thống của nhiều chủ thể. Còn sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm của điều kiện khách quan.
Sự phân biệt hai phạm trù này có ý nghĩa quan trọng ở chỗ tạo ra khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn của hoạt động phổ biến pháp luật. Thực tiễn đã chỉ ra rằng nếu buông trôi, thả lỏng việc phổ biến pháp luật thì các nhân tố tiêu cực như: hiện tượng vi phạm pháp luật, phạm tội chưa được xử lý nghiêm minh; hiện tượng nhận hối lộ, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức sẽ có điều kiện tác động phản giáo dục rất mạnh lên nhận thức, tình cảm, lòng tin vào pháp luật của công dân. Từ đó, có thể hình thành loại ý thức pháp luật ngược với mục tiêu của nền pháp chế và là cơ sở cho các hành vi vi phạm pháp luật tăng lên. Ngược lại, nếu xác định đúng đắn các yếu tố của phổ biến pháp luật như nội dung, hình thức, phương pháp.
và định hướng chúng ngay trong các hoạt động của thực tiễn pháp luật phù hợp với yêu cầu từng giai đoạn, từng thời kỳ thì sẽ giảm bớt được tác động của các tiêu cực, giúp cho đối tượng được phổ biến có ý thức pháp luật vững 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vàng, có khả năng phân tích, phê phán một cách đúng đắn về hiện thực pháp luật trong quá trình vận động của nó. Từ đó, mọi người có thái độ và hành động phù hợp với pháp luật. - Phổ biến pháp luật vừa mang những đặc điểm chung của hoạt động tuyên truyền, giáo dục, sử dụng các hình thức phương pháp của tuyên truyền, giáo dục nói chung, vừa thể hiện những nét đặc thù riêng có của mình trong mối liên hệ chặt chẽ với các loại hình giáo dục khác như giáo dục chính trị, đạo đức. Tính đặc thù của phổ biến pháp luật thể hiện ở cả mục đích, nội dung và ở cả hình thức, phương pháp.
Nét đặc thù của phổ biến pháp luật khác tương đối với các dạng giáo dục khác ở chỗ: + Phổ biến pháp luật có mục đích riêng của mình, đó là hoạt động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật. + Phổ biến pháp luật có nội dung riêng, đó là sự tác động định hướng với nội dung cơ bản là chuyển tải tri thức của nhân loại nói chung, của một nhà nước nói riêng về hai hiện tượng nhà nước và pháp luật. Trong đó, pháp luật thực định hiện hành của Nhà nước là bộ phận vô cùng quan trọng. + Xét trên các yếu tố chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục cũng có thể chỉ ra các nét đặc thù của phổ biến pháp luật.
Chẳng hạn, phổ biến pháp luật so với các dạng giáo dục khác, đó là quá trình tác động liên tục, thường xuyên, lâu dài chứ không phải là sự tác động một lần của chủ thể lên đối tượng giáo dục. Vì thế, phổ biến pháp luật trở thành sợi chỉ đỏ xuyên nối qua gia đình, nhà trường, các tập thể lao động, các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể xã hội. Nhân tố con người với hành vi hợp pháp đóng vai trò chủ đạo trong quá trình tác động qua lại giữa người giáo dục (chủ thể) với người được giáo dục (đối tượng). Người được giáo dục là người chịu sự tác động có tổ chức, có định hướng các thông tin pháp luật.