phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về công cụ phái sinh, thị trường tài chính phái sinh và hoạt động phái sinh tại Ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động phái sinh tại Ngân hàng TMCP Quân đội - MB. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động phái sinh tại Ngân hàng TMCP Quân đội - MB. 6 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁI SINH, THỊ TRƢỜNG TÀI CHÍNH PHÁI SINH VÀ HOẠT ĐỘNG PHÁI SINH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Công cụ phái sinh 1.1 Sự ra đời của công cụ phái sinh Mặc dù được xem là sản phẩm của nền kinh tế tài chính hiện đại, nhưng công cụ phái sinh đã manh nha hình thành từ rất lâu đời. Nguồn gốc của giao dịch phái sinh được các nhà nghiên cứu tìm thấy từ vài thế kỷ trước.
Theo Kaori Suzuki và David Turner (2005), một trong những giao dịch phái sinh đầu tiên và lâu đời nhất là các hợp đồng tương lai lúa gạo, xuất hiện đầu tiên tại Nhật Bản vào khoảng những năm 1700 – khi mà những người nông dân có thể mang gạo đến các thành phố lớn như Osaka để tập trung bán tại các cuộc đấu giá. Những người thắng cuộc thắng cuộc sẽ bán gạo và nhận được một biên nhận để sau đó có thể đổi sang tiền mặt. Dần dần, những phiếu biên nhận này trở thành vật giao dịch chính, những nhà buôn mua bán các giấy biên nhận trên một thị trường riêng và gạo trở thành tài sản cơ sở. Năm 1730, sàn giao dịch gạo Dojima được thành lập, cho phép mua bán gạo theo hình thức giao ngay và kỳ hạn, lấy kỳ hạn của các hợp đồng gạo tối đa là 4 tháng.
Còn tại Chicago – Mỹ, vào năm 1848, Sở giao dịch thương mại Chicago (CBOT) đã được thành lập nhằm mục đích bảo hiểm rủi ro về giá ngũ cốc cho các nông dân và thương nhân buôn bán ngũ cốc. Sở đã tiêu chuẩn hóa khối lượng và chất lượng sản phẩm giúp các bên dễ dàng trong việc định giá và thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hóa. Năm 1973, Sở giao dịch quyền chọn Chicago (The Chicago Board Options Exchange- CBOE) bắt đầu giao dịch các hợp đồng quyền chọn mua đối với 16 loại cổ phiếu. Hợp đồng quyền chọn bán bắt đầu được giao dịch trên sàn từ năm 1977.
Kể từ đó, thị trường quyền chọn đã phát triển mạnh mẽ, tạo ra các trao đổi mới và nhiều loại hợp đồng quyền chọn mới. Những hợp đồng quyền chọn có tài sản cơ sở khác nhau từ cổ phiếu và trái phiếu, ngoại tệ, chỉ số chứng khoán, đến các quyền chọn trên hợp đồng. Chỉ sau một thời gian ngắn được giao dịch, quyền chọn đã được phép giao dịch trên tất cả các thị trường lớn như American Stock Exchange, 7 Philadelphia Stock Exchange, Midwest Stock Exchange Pacific Stock Exchange; London Internatrional Financial Futures Exchange – LIFEE. Năm 1970, với chế độ tỷ giá thả nổi, thị trường các giao dịch kỳ hạn phát triển mạnh mẽ.
Đến năm 1972, Sở giao dịch Chicago Mercantile Exchange (CME) được thành lập tạo nên thị trường tiền tệ quốc tế là nơi giao dịch các hợp đồng tương lai tiền tệ, theo đó đến năm 1982, SGD CME đã tạo ra hợp đồng Eurodollar là loại hợp đồng tương lai được giao dịch nhiều nhất. Bên cạnh đó, hợp đồng tương lai lãi suất đầu tiên được tạo ra bởi SGD CBOT vào năm 1975 dựa trên các khoản vay có đảm bảo của Ginnie Mae. Những năm 1980 đánh dấu thời kỳ bắt đầu của Giao dịch phái sinh không tập trung (Over the counter – OTC). Kể từ đó, tạo bước đà cho sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của các giao dịch phái sinh trên thị trường thế giới.
Theo số liệu báo cáo của Ngân hàng thanh toán Quốc tế BIS, đến tháng 12 năm 2007, các hợp đồng phái sinh được trao đổi trên các sàn giao dịch đạt kỷ lục 681 nghìn tỷ Đô la Mỹ. Sau 6 năm, năm 2013, khối lượng các giao dịch phái sinh toàn thế giới đạt 1200 nghìn tỷ USD, gần gấp đôi năm 2007. Như vậy, từ các tài sản cơ sở đầu tiên chỉ là nông sản, đến nay, có thể nói bất kỳ một loại hàng hóa, dịch vụ nào cũng có thể trở thành tài sản cơ sở của giao dịch phái sinh. Phái sinh đã vượt xa khỏi giới hạn của hợp đồng nông sản ban đầu, trở thành một công cụ tài chính để phòng vệ rủi ro biến động giá cả của hàng hóa, lãi suất, tỷ giá, chứng khoán cũng như một kênh đầu tư chênh lệch giá mới cho các nhà đầu cơ trên thị trường tài chính.2 Khái niệm về công cụ phái sinh và hoạt động phái sinh: 1.1 Công cụ phái sinh: “Phái sinh” được dịch từ nguyên gốc tiếng Anh là “derivative”, có nghĩa là “bắt nguồn từ” hay “phát sinh từ”.
Trên thế giới, hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về CCPS được đưa ra bởi những tổ chức uy tín như sau: Theo sách trắng báo cáo về thị trường phái sinh toàn cầu của một trong những tổ chức điều hành sàn chứng khoán lớn nhất thế giới Deutsche Boerse AG 8 cho rằng: “CCPS là những công cụ tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc (hoặc bắt nguồn) từ giá trị của những biến số cơ sở. “Biến số cơ sở là những yếu tố (như giá trị, mức độ biến động giá,.) của một tài sản cơ sở (underlying asset) được giao dịch trong hợp đồng phái sinh” Theo John Downes và Jordan Elliot Goodman (2010) thì “CCPS là một hợp đồng có giá trị phụ thuộc vào kết quả hoạt động của một tài sản, tài chính gốc, một chỉ số hoặc các công cụ đầu tư khác” Còn tại Việt Nam, trong Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (khoản 23. Điều 4) thuật ngữ sản phẩm phái sinh được giải thích là “Công cụ tài chính được định giá theo biến động dự kiến về giá trị của một tài sản tài chính gốc như tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ hoặc tài sản tài chính khác”. Dù được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng tựu trung lại CCPS là một công cụ mà giá trị của nó bắt nguồn từ giá trị của các tài sản cơ sở; thu nhập trong tương lai của nó phụ thuộc vào sự thay đổi của các biến số cơ sở, như giá của hàng hóa, tỷ giá, lãi suất, chỉ số chứng khoán hay các loại chỉ số khác.
Bản thân CCPS không có giá trị, mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị của tài sản cơ sở. Tài sản cơ sở có thể là bất cứ thứ gì được 2 bên chấp thuận giao dịch và được chia thành 2 nhóm chính như sau: - Tài sản hàng hóa: + Nông sản: ngũ cốc (ngô, lúa mỳ, đậu), các loại thịt, các sản phẩm bơ sữa, lâm sản, coca, café, đường… + Nhiên liệu: dầu thô, dầu sưởi, dầu diesel, dầu ethanol, xăng, khí ga, than. + Kim loại: vàng, bạc, bạch kim, paladin, đồng, thép, uranium. + Thời tiết: Nhiệt độ các nước Mỹ, Canada, Australia, Châu Âu, Châu Á Thái Bình Dương, bão hurricane, sương mù, lượng tuyết, lượng mưa.
- Tài sản tài chính: + Chỉ số cổ phiếu: S&P 500, S&P midcap 400, S&P smallcap 600, chỉ số 9 DownJohn, S&P CNX, Nikkei 225… + Các loại tiền tệ được lưu hành + Lãi suất: Lãi suất Eurodollar, Euribor, Tibor, Sibor, Libor, các chỉ số lãi suất… Theo Hunt & Kennedy (2004), “Công cụ tài chính phái sinh - thường được gọi là các công cụ tài chính mới - là công cụ tài chính có giá trị được xác định dựa trên cơ sở giá trị của các công cụ tài chính cơ sở như chứng khoán, hối đoái, lãi suất”. Như vậy, dựa trên sự phân loại về tài sản cơ sở, ta có thể chia CCPS thành phái sinh hàng hóa và phái sinh tài chính trong đó phái sinh hàng hóa là các giao dịch phái sinh mà tài sản cơ sở là hàng hóa (nông sản, nhiên liệu, kim loại…) và phái sinh tài chính là các giao dịch phái sinh có tài sản cơ sở là tài sản tài chính (lãi suất, tỷ giá, chỉ số chứng khoán…).2 Hoạt động phái sinh Hoạt động phái sinh trong bài viết được định nghĩa là nghiệp vụ sử dụng các công cụ phái sinh, bao gồm cả phái sinh hàng hóa và phái sinh tài chính, nhằm các mục tiêu khác nhau như phân tán, phòng ngừa rủi ro về giá cả hàng hóa, lãi suất, chứng khoán, tỷ giá…; kinh doanh, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận; lợi dụng chênh lệch giá và đầu cơ. Từ hoạt động phái sinh tạo ra các giao dịch phái sinh mà theo Redhead (2010) nói rằng “GDPS chính là một loại hình bảo hiểm rủi ro tài chính khi thực hiện các hợp đồng kinh tế mà bản chất là phân tán rủi ro tiềm ẩn và đương nhiên, lợi nhuận của các giao dịch cùng được chia sẻ cho các bên. GDPS gồm các giao dịch kỳ hạn (Forward), hoán đổi (Swaps), quyền chọn (Options) và tương lai (Futures)”.3 Đặc điểm của công cụ tài chính phái sinh Thứ nhất, các CCPS có giá trị thay đổi theo sự thay đổi giá trị của các tài sản cơ sở (lãi suất, giá công cụ tài chính, giá hàng hóa, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá, xếp hạng tín dụng hoặc chỉ số tín dụng).
Sự thay đổi của các tài sản cơ sở chính là điều kiện hình thành các CCPS. Do đặc điểm này mà việc định giá các CCPS rất khác biệt so với các công cụ tài chính khác. Chẳng hạn như để định giá một cổ phiếu phổ 10 thông của một doanh nghiệp, ta cần ước tính được các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai, cổ tức dự kiến hàng năm, giá bán cổ phiếu dự kiến hay tốc độ tăng trưởng của công ty. Nhưng để định giá một công cụ phái sinh, giả sử như định giá một quyền chọn bán 1.000 tấn gạo tại thời điểm 02/06/2018, ngày đáo hạn là 19/01/2020, ta cần xét đến những biến động về giá trị thị trường của tài sản, giá thực hiện của quyền chọn bán, lãi suất phi rủi ro, mức độ biến động tỷ suất lợi nhuận của tài sản.
Như vậy, giá trị các CCPS phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi giá trị của tài sản cơ sở. Thứ hai, công cụ phái sinh không yêu cầu bất cứ một khoản đầu tư thuần ban đầu nào hoặc chỉ yêu cầu một khoản đầu tư thuần ban đầu thấp hơn so với các loại hợp đồng khác có các phản ứng tương tự đối với sự thay đổi của các yếu tố thị trường.