Chương 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NHÀ MÁY LUYỆN - CÁN THÉP GIA SÀNG TRƯỚC NĂM 1986 1. Quá trình xây dựng Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng (1971 - 1975) Thái Nguyên là một tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, có tiềm năng lớn về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực. Trong lịch sử, Thái Nguyên được biết đến là mảnh đất anh hùng, giàu truyền thống cách mạng. Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc năm 1954, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, bước vào thời kì khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh và cải tạo quan hệ sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Tỉnh Thái Nguyên có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, trong đó chủ yếu là quặng sắt và các nguyên liệu phụ trợ cho việc sản xuất gang thép, như: than, đá vôi, Fero - mangan, Fero silic, nhôm…Các mỏ sắt ở Trại Cau, Tiến Bộ, Quang Trung… đều là những mỏ lộ thiên có tổng trữ lượng khoảng 50 triệu tấn với 2 loại quặng chủ yếu là Manhêtít (có hàm lượng Fe trên 60%), Limônít (có hàm lượng Fe khoảng 50 - 55%), Ngoài ra, các tỉnh tiếp giáp với Thái Nguyên như Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ… cũng có nguồn quặng sắt dồi dào thuận lợi cho sản xuất gang thép. Từ những lợi thế trên, năm 1959, tỉnh Thái Nguyên được Đảng và Chính phủ chọn làm nơi xây dựng khu công nghiệp luyện kim đầu tiên ở miền Bắc nước ta. Đó là Khu Công nghiệp gang thép Thái Nguyên. Cùng với sự phát triển của Khu Công nghiệp Gang thép Thái Nguyên (từ năm 1962, gọi là Công ti Gang thép Thái Nguyên), vào đầu thập niên 70 thế kỉ XX, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế, xã hội của nước nhà cũng như nhu cầu về sắt thép ngày càng lớn, bằng nguồn vốn không hoàn lại ban đầu là 120 triệu đồng của Cộng hoà Dân chủ Đức, Ban Giám đốc Công ti Gang thép Thái Nguyên đã xây dựng 7 thêm nhà máy luyện cán thép theo công nghệ của Đức trên địa bàn phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên.
Phường Gia Sàng nằm liền kề với khu Lưu Xá là địa bàn chính của Công ti Gang thép Thái Nguyên, có vị trí thuận lợi, bám dọc trục Đường Cách Mạng Tháng Tám - tuyến đường chính của tỉnh Thái Nguyên, cách Quốc lộ 3 Thái Nguyên đi Hà Nội không xa, thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên liệu cũng như sản phẩm ra thị trường cả nước. Theo Quyết định số 18/TTCP (8/2/1970) về việc sử dụng đất xây dựng Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng do Phó Thủ tướng Đỗ Mười kí, mặt bằng diện tích xây dựng nhà máy trên 30 hécta, với hơn 20 công trình lớn nhỏ và 3 phân xưởng chính là: Luyện thép, cán thép và kéo dây mạ kẽm. Công suất ban đầu của nhà máy là 5 vạn tấn thép thành phẩm mỗi năm. Để chuẩn bị cho xây dựng nhà máy, công tác giải phóng mặt bằng được triển khai khẩn trương.
Lúc bấy giờ, dân cư thưa thớt, đường sá đi lại khó khăn. Khu đất xây dựng Nhà máy phần lớn là những quả đồi, ít người ở. Tổng số hộ phải di dời đến nơi khác để xây dựng Nhà máy là 10 hộ dân, còn lại là vùng đất trống, không người ở. Vì thế, công tác chuẩn bị mặt bằng để xây dựng Nhà máy diễn ra khá thuận lợi.
Đến đầu năm 1971, mọi việc chuẩn bị cho việc động thổ xây dựng Nhà máy đã sẵn sàng. Cùng với quá trình chuẩn bị mặt bằng xây dựng nhà máy, nhận thấy đây là một công trình quan trọng, Ban Giám đốc Công ti Gang thép Thái Nguyên đã thành lập Ban Kiến thiết Nhà máy Luyện Cán thép Gia Sàng gồm có 1 Truởng ban là ông Phạm Bố Doanh phụ trách chung và 3 Phó ban là các ông: Nguyễn Danh Toàn phụ trách thiết bị, Nguyễn Thượng Chí phụ trách sản xuất, Nguyễn Hoài Khiêm làm việc trực tiếp với chuyên gia Đức. Ban Kiến thiết cùng hàng ngàn công nhân kĩ thuật, lắp máy Việt Nam làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của 124 chuyên gia đến từ Đức với đủ các ngành nghề. Với tinh thần trách nhiệm cao, cán bộ, công nhân Việt Nam cùng 8 với các chuyên gia Cộng hòa Dân chủ Đức đều làm việc hăng say, chuẩn bị cho ngày khởi công xây dựng Nhà máy.
Hàng chục quả đồi đã được san bạt, hàng ngàn mét khối đất, đá được san lấp. Khu vực xây dựng Nhà máy trở nên huyên náo với số lượng công nhân làm việc tại công trường lên tới vài trăm người, cùng hàng chục xe máy xúc, máy kéo, tiếng cuốc, xẻng… Ngày 23/3/1971, Nhà máy chính thức được khởi công xây dựng: Đổ móng bê tông của một số hạng mục chính gồm: Nhà xưởng, kho chứa nguyên liệu, xưởng luyện thép, cán thép, kéo dây cùng các trạm phụ trợ gồm: Trạm ôxi khí nén, trạm điện 110 KV, trạm cấp nước, trạm nồi hơi, trạm hoá nghiệm. Công trường xây dựng Nhà máy gồm hai bộ phận: Công trường xây dựng do Đội Công trình II thuộc Bộ Xây dựng là đơn vị thi công và Công trường lắp máy do Xí nghiệp Liên hợp Gang thép Thái Nguyên là đơn vị tiến hành. Cả hai công trường này đều dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các chuyên gia Cộng hoà Dân chủ Đức.
Sau hơn 1 năm thi công, phần đổ móng bê tông một số hạng mục chính đã hoàn thành. Trong lúc Nhà máy đang được khẩn trương xây dựng, tháng 4/1972, đế quốc Mĩ chính thức gây ra chiến tranh phá hoại lần thứ hai bằng không quân và hải quân trên toàn bộ lãnh thổ miền Bắc nước ta. Sự kiện này đã tác động không nhỏ đến quá trình xây dựng Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng. Mọi hoạt động thời bình nhanh chóng được chuyển vào thời chiến để ứng phó với tình hình có chiến tranh.
Tại công trường xây dựng Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng, các vật liệu xây dựng cùng với 4.500 tấn thiết bị máy móc quan trọng, v. được nhanh chóng di chuyển đến những nơi an toàn. Trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại diễn ra ngày càng ác liệt, cán bộ, công nhân vẫn kiên trì bám chắc vị trí công việc với tinh thần giặc đến là đánh, giặc đi lại tiếp tục lao động. Các phương án đối phó với tình hình có chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mĩ được chuẩn bị chu đáo.
Nhờ vậy, dù máy bay B52 của giặc Mĩ ném 9 bom vào khu vực đang thi công đêm 24/12/1972, công trường xây dựng Nhà máy cũng không bị tổn thất lớn. Do không đạt được mục tiêu cuộc chiến tranh, lại bị thiệt hại nặng nề trước tinh thần chiến đấu của quân, dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc, trực tiếp là trận Điện Biên Phủ trên không, đế quốc Mĩ buộc phải kí kết chính thức Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (27/1/1973). Sau ngày Hiệp định Pari được kí kết, miền Bắc có điều kiện hoà bình để tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 22 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) diễn ra vào tháng 12 năm 1973 thông qua nghị quyết việc khôi phục và phát triển kinh tế, xã hội miền Bắc trong 2 năm 1974 - 1975.
Nghị quyết nêu rõ: “…. Cần tập trung sức khôi phục và hoàn thành sớm việc xây dựng khu gang thép Thái Nguyên, để huy động nhanh vào sản xuất…”. Từ đó, trên công trường thi công Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng lại tiếp tục bước vào giai đoạn sôi nổi khẩn trương hơn. Những hạng mục còn dang dở như đổ cột, xây lò, hoàn thiện xưởng nguyên liệu và các xưởng sản xuất được gấp rút hoàn thành.
Càng về cuối giai đoạn xây dựng Nhà máy, không khí làm việc tại công trường càng nhộn nhịp, tất bật hơn. Ngày 20/5/1974, Bộ Cơ khí và Luyện kim Việt Nam (nay là Bộ Công Thương nghiệp) quyết định thành lập Nhà máy với tên gọi Nhà máy Luyện Cán thép Gia Sàng. Từ sau quyết định này, Công ti Gang thép Thái Nguyên thành lập Ban Chuẩn bị sản xuất của Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng, lên phương án chuẩn bị cho mẻ thép đầu tiên ra lò. Việc làm cấp thiết đầu tiên của Ban là vấn đề về nguồn nhân lực.
Để đảm bảo cho Nhà máy có thể hoạt động ngay sau khi khánh thành, Ban Chuẩn bị sản xuất cử người đi khắp nơi, chủ yếu là các tỉnh Hà Tây (cũ), Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoá, Hải Phòng để tuyển nhân công. Một bộ phận công nhân ở các phân xưởng chính được chuyển từ Nhà máy Cán thép Lưu Xá thuộc Công ti Gang thép Thái Nguyên sang. Cùng với đó, Nhà máy đã 10 tiếp nhận hàng trăm cán bộ, kĩ sư được Nhà nước cho du học ở Đức về lĩnh vực công nghiệp nặng. Trên cơ sở nguồn nhân lực đã được tuyển chọn, Ban Giám đốc Nhà máy quyết định cử gần 200 công nhân, lập thành 4 đoàn sang Cộng hoà Dân chủ Đức thực tập công nghệ sản xuất và làm việc trực tiếp trong vòng 6 tháng.
Bộ phận này sau khi trở về nước là lực lượng nòng cốt của Nhà máy, được đưa vào các phân xưởng chủ chốt để thực hiện công nghệ sản xuất; đồng thời tổ chức đào tạo lại cho đội ngũ công nhân không được trực tiếp sang Đức học tập. Cùng với việc chuẩn bị nguồn nhân lực, Ban Chuẩn bị sản xuất tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng lắp đặt máy móc thiết bị, biên soạn quy trình kĩ thuật sản xuất, quy trình an toàn lao động, đào tạo công nhân kĩ thuật, chuẩn bị tiếp nhận dây chuyền công nghệ đưa vào sản xuất. Được sự giúp đỡ của các chuyên gia Cộng hoà Dân chủ Đức, việc thi công lắp máy trên công trường được tiến hành liên tục. Đội ngũ công nhân với sức trẻ, sự sáng tạo, đã nhanh chóng học hỏi, sớm tiếp thu kĩ thuật của các chuyên gia bạn và cán bộ kĩ thuật trong nước.
Tính đến tháng 12/1974, Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng có 755 cán bộ, công nhân viên chức (trong đó, 617 công nhân kĩ thuật có trình độ bậc thợ bình quân là 1,17/7 bậc gồm đủ các ngành nghề đào tạo). Đầu năm 1975, các công trình lần lượt được đưa vào hoạt động: Trạm cấp nước (26/3/1975), trạm khí than nồi hơi (23/4/1975), trạm ôxi khí nén (25/4/1975), trạm gia công cơ khí, trạm điện biến áp 110 KV (15/5/1975). Tiếp đến là các phân xưởng công nghệ, gồm các thiết bị quan trọng như: Phân xưởng luyện thép có lò luyện, cầu trục, xe nâng, bộ phận lọc bụi; phân xưởng cán thép là máy cán, lò nung, cầu trục.