Chương IU: Triển vọng và giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào khu vực phía Bắc Việt Nam Với những hạn chế về thời gian, tài liệu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu và kiến thức tích lũy, khoa luận chắc chấn vẫn còn nhiều thiếu sót. Kính mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của quý thầy cô và độc giả để bài khoa luận được hoàn chỉnh hơn. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo - ThS Tràn Thị Ngọc Quyên đã tận tình giúp đ em trong quá trình thực hiện khoa luận này. 3 CHAT LUONG download : add luanvanchat@ Chương ì: LÝ LUẬN CHUNG VẾ Đ Â U TƯ TRỰC TIẾP N Ư Ớ C NGOÀI (FDI) ì.
KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM 1. Khái niệm Quá trình toàn cầu hoa phát triển kéo theo sự gắn kết giữa các quốc gia về mặt kinh tế, và đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng trở thành một khái niệm quen thuộc. Tuy nhiên, hoạt động đẩu tư giữa các nước luôn vận động với muôn hình muôn vẻ, đa dạng và phong phú nên vẫn chưa có một khái niệm chung nhợt về đáu tư trực tiếp nước ngoài giữa các tổ chức, các quốc gia trên thế giới. Khái niệm về "đâu tư" được nhắc đến nhiều như một bước đệm bổ sung các đặc điểm cho khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Vậy thế nào là đầu tư? Theo nghĩa gốc, thuật ngữ đầu tư (investment) có thể được coi là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì đó ờ hiện tại (như tiền bạc, sức lao động, của cải vật chợt, trí tuệ.) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho nhà đẩu tư trong tương lai. Trên góc độ kinh tế học, có thể hiểu hoạt động đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực vào một hoạt động nhợt định nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, đầu tư tức là sử dụng một cách trực tiếp hay aián tiếp các nguồn lực có thể huy động được để đưa vào sản xuợt kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Đẩu tư nước ngoài cũng chính là hoạt động đẩu tư, tuy nhiên điểm khác ở đây là xuợt hiện nhà đầu tư nước ngoài: "Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư" (Điều 3.
Nhà đâu tư nước ngoài được nhác đến ở đây chính là các tổ chức, cá nhàn nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt độna đầu tư ờ Việt Nam. Đẩu tư nước ngoài với kênh chính phủ và kênh tư nhân bao 2ồm các hình thức đầu tư khác nhau nhưng đều là việc bỏ vốn bằng các tài sản hữu hình hoặc vô hình vào một hoạt động nhợt định nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận hoặc các hiệu quà kinh tế xã hội khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài nằm trong kênh tư nhân, mang nhiều đặc điểm chung của đầu tư nước ngoài nhưng cũng có những nét riêng biệt. Đ ã có rợt nhiều tổ chức kinh tế nghiên cứu và đưa ra những khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm giúp các quốc gia hoạch định các chính 4 CHAT LUONG download : add luanvanchat@ sách kinh tế vĩ m ô về FDI cũng như giúp ích cho công tác thống kẽ quốc tế.
Dưới đây là một số cách tiếp cận FDI. Nguồn quốc tê Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra khái niệm về FDI như sau: "FDI là hoạt động đẩu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích láu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đẩu tư là giành được một mỷc độ ảnh hưởng trong quản lý doanh nghiệp đật tại nền kinh tế đó" (BPM5,fifth edition). I M F đưa ra một tỷ lệ góp vốn là 1 0 % (nhà đầu tư nắm ít nhất 1 0 % cổ phiếu thường hay quyền biểu quyết của một doanh nghiệp) để xác định xem nhà đầu tư có phải là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay không. Theo khái niệm của IMF, có thể thấy FDI gắn liền với hai yếu tố là lợi ích lâu dài và quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
Lợi ích lâu dài chính là mối quan tâm lảu dài của nhà đầu tư trong côrm việc đầu tư kinh doanh ở doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác. Nhà đầu tư có thể hy sinh tài sản hữu hình hay vô hình trong hiện tại nhưng luôn hướng đến lợi ích lâu dài trong tương lai. Thêm vào đó là quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Đ ó chính là tiêu chuẩn nhà đầu tư nước ngoài ấy có nắm giữ ít nhất 1 0 % cổ phiếu thường hay quyền biểu quyết của doanh nghiệp đó hay không.
Điều này tương ỷng với việc nhà đầu tư có tiếng nói trong doanh nghiệp đó hay khône. Quyền quản lý thực sự doanh nghiệp chính là quyền kiểm soát doanh nghiệp, quyền tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh hưởng đến sự tổn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tổ chức Hợp tác và phái triền kinh tế(OECD) cũng đưa ra khái niệm vé FDI: "FDI là hoạt động đấu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đẩu tư mang lại khả năng tạo ảnh hường đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: thành lập hoặc mờ rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có, tham gia vào một doanh nghiệp mới, cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm), nắm quyền kiểm soát (nắm từ 1 0 % cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trờ lên)". Như vậy cũng giống như khái niệm của IMF, OECD cũng khẳng định hai yếu tố cấu thành nên đặc trưng của FDI chính là mối quan hệ lâu dài và ảnh hường với việc quản lý doanh nghiệp.
Tuy nhiên, OECD còn mở rộng 5 CHAT LUONG download : add luanvanchat@ hơn cách thức để nhà đầu tư tạo ảnh hường với việc quản lý doanh nghiệp. Theo OECD: "một doanh nghiệp đẩu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 1 0 % cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết". Điểm mấu chịt ở đây chính là quyền kiểm soát công ty. Tuy nhiên không phải tất cả các quịc gia đều sử dụng mức 1 0 % làm mịc xác định FDI.
Trong thực tế cónhững trường họp tỷ lệ sở hữu tài sản của chủ đẩu tư nhỏ hơn 1 0 % nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều trường hợp lớn hơn 1 0 % nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp. Nguồn Việt Nam Luật đẩu tư được quịc hội nước cộng hoa xã hội chù nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 không trực tiếp đưa ra khái niệm "đẩu tư trực tiếp nước ngoài". Tuy nhiên thông qua các khái niệm: "đầu tư", "đầu tư trực tiếp", "đầu tư gián tiếp", "đầu tư nước ngoài", "đầu tư trong nước", "đẩu tư ra nước ngoài" được đưa ra trong điều 3 luật này có thể hiểu rằng: Đầu lư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vịn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào đê trực tiếp tiến hành các hoạt động đẩu tư. Như vậy điểm khác biệt cẩn nhấn mạnh của đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là nhà đẩu tư nước ngoài "trực tiếp" tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Điều đó có nghĩa là nhà đầu tư nước ngoài muịn đạt được lợi ích dài hạn của mình thì phải hy sinh nguồn lực trong hiện tại đổng thời trực tiếp tiến hành quàn lý, giám sát và chịu trách nhiệm với kết quả hoạt động đầu tư. Như vậy, điểm qua một sị khái niệm về FDI, ta cóthể rút ra một sị kết luận sau. Thứ nhất, FDI liên quan đến một mịi quan hệ láu dài và phản ánh một mịi quan tâm dài hạn (lợi ích dài hạn) của một tổ chức hoặc cá nhân một nước (nhà đầu tư nước ngoài) với một tổ chức tại một nước khác. 77?«" hai, mục đích của nhà đầu tư là giành một mức độ ảnh hưởng hiệu quả đến quá trình quản lý doanh nghiệp tại nước này.
Đây chính là đặc trưng quan trọng nhất của FDI, giúp phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và đẩu tư chứng khoán nước ngoài. Tuy nhiên, tiếng nói hiệu quả trong quân lý phải đi kèm với một mức sờ hữu cổ phần nhất định thì mới được coi là FDI. 6 CHAT LUONG download : add luanvanchat@ 2. M ụ c đích của hoạt động đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận Như đã trình bày ở trên những quan điểm về FDI của IMF, OECD và Việt Nam thì FDI nằm trong kênh đẩu tư tư nhân vì thế nó có mục đích ưu tiên hàng đẩu là tìm kiếm lợi nhuận.
Khác với hỗ trợ phát triển chính thảc (ODA) lấy sự phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi cho các nước đang và kém phát triển làm mục đích chính, đầu tư trực tiếp nước ngoài phản ánh mối quan tâm của chủ đầu tư để có thể đạt được lợi ích lâu dài trên nước nhận đâu tư. Các tổ chảc, cá nhân nước ngoài đẩu tư trực tiếp vào một tổ chảc trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác luôn muốn tối đa hoa lợi ích, muốn tối đa hoa lợi nhuận. Vì thế các nước nhận đẩu tư trực tiếp nước ngoài cần phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước mình. Giành quyền kiểm soát đôi tượng đầu tư thông qua tỷ lệ vốn góp Đây chính là đặc điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thảc khác.
Nếu không có đặc điểm này thì không thể hình thành nên FDI. Quyền kiểm soát doanh nghiệp được nói đến ở đây là quyền tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh hường đến sự tổn tại và phát triển của doanh nghiệp như thông qua chiến lược hoạt động của công ty, thông qua, phê chuẩn kế hoạch hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, quyết định việc phân chia lợi nhuận, quyết định phần vốn góp giữa các bên. đó là những quyền ảnh hưởng lớn đến sự phát triển, sống còn cùa doanh nghiệp. Tuy nhiên, tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải gắn liền với một mảc sở hữu cổ phần nhất định thì mới được coi là FDI.