CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG DỰ ÁN BẤT ĐỘNG SẢN 1. Những vấn đề chung về dự án bất động sản và hoạt động chuyển nhượng dự án bất động sản 1. Khái niệm, đặc điểm của dự án bất động sản Để tìm hiểu về hoạt động chuyển nhượng dự án bất động sản, trước hết cần làm rõ thế nào là một dự án bất động sản. Theo tiêu chuẩn ISO 10006:2003, “dự án là một quy trình chuyên biệt bao gồm một tập hợp các hoạt động được phối hợp và kiểm soát về thời điểm bắt đầu và kết thúc; thực hiện để đạt được mục tiêu phù hợp với yêu cầu đề ra trong sự giới hạn về thời gian, chi phí và nguồn lực” [1].
Theo Hiệp hội Quản trị dự án của Nhật bản, “Dự án đề cập đến một công việc tạo ra giá trị cụ thể, được hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định hoặc theo một kế hoạch cụ thể, dưới sức ép về các nguồn lực và hoàn cảnh bên ngoài” [2]. Nhìn chung, dự án được hiểu là một quá trình tạo ra giá trị, có kế hoạch thực hiện và mục tiêu hoàn thành cụ thể, dưới sự giới hạn về thời gian, về nguồn lực và chịu sức ép từ các điều kiện bên ngoài. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Đầu tư là bỏ vốn vào việc sản xuất, kinh doanh để được hưởng phần lợi, lãi” [3, tr. Theo Từ điển Luật học: “Đầu tư là việc cá nhân, tổ chức đưa các loại tài sản vào làm vốn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh” [4, tr.
Như vậy, đầu tư là việc tổ chức, cá nhân bỏ vốn hoặc tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, được thực 1 Quality Management Systems (2003), ISO 10006:2003 - Guidelines for Quality Management in Projects, USA. 2 Project Mamagement Association of Japan (PMAJ) (2005), Aguidebook of Project & Program Management for Enterprise Inovations (P2M), Japan. 3 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2001), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 4 (1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
-8- hiện trong một thời gian dài và mọi hoạt động đầu tư đều liên quan đến vốn [5, tr. Do tính phức tạp của hoạt động đầu tư nên để tiến hành việc đầu tư cần chuẩn bị cẩn thận, nghiêm túc. Sự chuẩn bị này được thể hiện qua các dự án đầu tư, hay nói cách khác, mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt được hiệu quả mong muốn. Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu, về bản chất, dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm mục đích đem lại sự tăng trưởng cả về mặt số lượng và chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoản thời gian xác định.
Về mặt hình thức, dự án đầu tư là các tập hồ sơ tài liệu trình bày chi tiết và có hệ thống về hoạt động và chi phí theo kế hoạch để thực hiện những mục tiêu và đạt được kết quả nhất định trong tương lai. Về mặt nội dung, dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau, bao gồm các chi phí, lịch trình, địa điểm để thực hiện hoạt động bỏ vốn đầu tư, chúng được lập ra nhằm đạt được một kết quả cụ thể cho từng trường hợp cụ thể. Dự án đầu tư là một trong những phương thức thể hiện chi tiết các kế hoạch của nhà đầu tư. Thông qua dự án đầu tư, nhà đầu tư quản lý được việc sử dụng vốn đầu tư, lao động, vật tư, trang thiết bị để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế, xã hội trong thời gian dài.
Đây không phải là một ý định hay một phác thảo sơ bộ, mà là một đề xuất chi tiết có tính chiến lược và có mục tiêu rõ ràng nhằm tạo ra lợi nhuận. Phân loại dự án đầu tư theo lĩnh vực đầu tư, ta có nhiều loại dự án đầu tư như dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, dự án phát triển cơ sở hạ tầng, dự án văn hoá xã hội, dự án bất động sản v. Với bản chất là một dự án đầu tư, dự án bất động sản có thể hiểu là một quá trình đầu tư theo kế hoạch cụ thể đã hoạch định sẵn nhằm tạo ra các giá trị từ nguồn vốn mà nhà đầu tư bỏ ra, với sự giới hạn về thời gian và về nguồn lực. Kết quả đạt được từ dự án bất động sản phải là lợi ích lớn hơn nguồn vốn ban đầu.
Sản phẩm 5 Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Thiết lập và thẩm định dự án đầu tư, NXB Kinh tế Tp. -9- của dự án bất động sản có thể gồm bất động sản hàng hóa (nhà ở, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất), hoặc thương hiệu, hoặc những kinh nghiệm được tích lũy v. Đối với sản phẩm là bất động sản, đây là một loại tài sản đặc biệt, được sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Do đó, dự án bất động sản cũng được quan tâm quản lý tùy thuộc vào từng thời kỳ, giai đoạn của dự án.
Cũng như những dự án đầu tư khác, chu trình đầu tư một dự án bất động sản gồm ba thời kỳ và bảy giai đoạn: thời kỳ chuẩn bị đầu tư với ba giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi; thời kỳ thực hiện đầu tư gồm giai đoạn xây dựng cơ bản và đưa dự án vào hoạt động; và thời kỳ kết thúc đầu tư gồm giai đoạn kiểm kê đánh giá dự án và giai đoạn thanh lý dự án. Thời kỳ thực hiện đầu tư chính là thời kỳ mà cơ sở thành hình các bất động sản ngày càng được củng cố, vì lẽ đó chủ đầu tư có quyền định đoạt đối với dự án bất động sản. Theo Bộ Luật Dân sự nước Việt Nam số 91/2015/QH13, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 (sau đây gọi là “Bộ Luật Dân sự”), tài sản bao gồm bất động sản và động sản hiện có hoặc động sản hình thành trong tương lai. Sản phẩm của một dự án bất động sản là bất động sản, bao gồm đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng… Trong đó, đất đai là một loại tài sản đặc biệt, theo Điều 197 Bộ Luật Dân sự, đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Như vậy, chủ đầu tư dự án bất động sản sẽ không có đầy đủ quyền đối với bất động sản sản phẩm. Chủ đầu tư không có quyền sở hữu đối với đất đai, do đó, nếu không tiếp tục triển khai dự án bất động sản, chủ đầu tư cũ phải chuyển nhượng dự án bất động sản cho chủ đầu tư mới, không thể phát sinh giao dịch mua bán dự án bất động sản được. Các chủ đầu tư chỉ có quyền chiếm hữu và quyền sử dụng (ở đây là quyền khai thác) đối với dự án bất động sản mà không có quyền định đoạt. Dự án bất động sản là loại tài sản đặt biệt, kinh doanh bất động sản ở Việt Nam mang nhiều tính đặc thù, do đó cần xem xét kỹ những đặc điểm đặc trưng của dự án bất động sản.
Bên cạnh những đặc điểm vốn có của bất động sản như tính bất động và tính khan hiếm, có giá trị kinh tế cao, chi phí giao dịch cao, chịu sự quản lý - 10 - chặt chẽ của pháp luật, tính thanh khoản kém, không đồng nhất và mang nặng yếu tố tập quán, thì còn có những đặc điểm như vốn đầu tư lớn, thời gian thực hiện kéo dài, tạo dựng tài sản có giá trị sử dụng lâu dài và nguồn lực thực hiện triển khai dự án yêu cầu lớn [6, tr. Cụ thể: - Tính bất động – Tính bất động của bất động sản thể hiện ở bản chất gắn liền với đất đai, được định vị cùng với đất bằng tọa độ vị trí cố định. Do đó, về lý thuyết con người có thể di dời các tài sản gắn liền với đất, thậm chí bề mặt của đất nhưng không thể di dời được tọa độ (vị trí của nó). - Tính khan hiếm – Bất động sản gắn liền với tài nguyên đất, mà tài nguyên đất thì hữu hạn, lãnh thổ của quốc gia, khu vực không thay đổi, tài nguyên đất không thể tái tạo được, trong khi dân số tăng nhanh, nhu cầu nhà ở, công trình thương mại dịch vụ, an sinh, xã hội và những công trình khác cũng ngày càng tăng theo.
- Có giá trị kinh tế cao – Tài sản bất động sản trong mỗi gia đình, doanh nghiệp thông thường có tỷ trọng lớn trong danh mục tài sản có, điều này có thể giải thích do tài nguyên đất là khan hiếm nên giá giao dịch liên quan đến chuyển nhượng, cho thuê và thế chấp thường có giá trị cao; hơn thế nữa công trình gắn liền trên đất thường cũng có giá trị xây dựng lớn. - Chi phí giao dịch cao – Khi giao dịch bất động sản người ta thường đắng đo cân nhắc trước khi đưa quyết định và cần đến dịch vụ của các tổ chức môi giới có vai trò xúc tác để giao dịch thành công. Các tổ chức môi giới thu thù lao theo tỷ lệ giá giao dịch thành công, mà giá trị giao dịch của bất động sản thông thường lớn. - Chịu sự quản lý chặt chẽ của pháp luật – Đất đai trong bất động sản là tài nguyên của quốc gia, gắn liền với các khía cạnh chủ quyền, an ninh, quốc phòng và phát triển kinh tế xã hội nên có rất nhiều văn bản cơ quan quản lý ban hành nhằm quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả.
Nội dung này được pháp luật quy định tại Điều 54, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2013, sau đây gọi là “Hiến pháp”), cụ thể: “Đất đai là tài nguyên đặc 6 Nguyễn Ngọc Vinh, Nguyễn Quỳnh Hoa, Giáo trình thẩm định giá bất động sản, Nxb Lao động xã hội. - 11 - biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật.
Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ.