phần mở đầu, kết luận, bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay hộ gia đình trong ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động cho vay hộ gia đình tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp chủ yếu phát triển hoạt động cho vay hộ gia đình tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ GIA ĐÌNH TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Trong nền kinh tế thị trƣờng, tín dụng ngân hàng là một trong những kênh dẫn vốn có hiệu quả, đáp ứng kịp thời các nhu cầu thiết thực của các cá nhân, tổ chức đồng thời cũng là một trong những công cụ kinh tế quan trọng góp phần thúc đẩy sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Nƣớc ta hiện nay là một nƣớc nông nghiệp với gần 80 dân số sống ở nông thôn, hơn 70 lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. M c dù khu vực này đã và đang đƣợc tiếp nhận nhiều nguồn vốn nhƣ: vốn ngân sách Nhà nƣớc, vốn đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài, vốn tín dụng thƣơng mại, vốn tín dụng ƣu đãi nhƣng tổng dƣ nợ cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khu vực này chỉ chiếm tổng dƣ nợ cho vay nền kinh tế, trong khi đó việc phân bổ nguồn vốn này lại không cân đối với nhu cầu và khả năng tạo ra hàng hóa, đ c biệt là hàng hóa xuất khẩu của từng vùng, miền; thiếu trọng tâm, trọng điểm.
Trong xu thế phát triển hiện nay thì việc xem xét đánh giá, nâng cao hoạt động cho vay đối với hộ gia đình đƣợc coi là yếu tố quan trọng mang lại lợi ích đối với ngân hàng và có ảnh hƣởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế. Đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về hoạt động cho vay hộ gia đình tại các ngân hàng thƣơng mại cũng nhƣ đề cập đến nội dung cụ thể về giải pháp phát triển hoạt động cho vay hộ gia đình tại các ngân hàng thƣơng mại. Những công trình này đã có những đóng góp tích cực trong việc củng cố nền tảng hệ thống lý luận về hoạt động cho vay hộ gia đình và các giải pháp tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Tổng quan các công trình nghi n c u nước ngoài Xuất phát từ việc nghiên cứu các lý luận về tín dụng ngân hàng, hộ gia đình, hiện nay có nhiều tổ chức, cá nhân, các nghiên cứu đƣa ra các quan điểm khác nhau về tín dụng ngân hàng đối với hộ gia đình dƣới các giác độ tiếp cận khác nhau.
4 Các nghiên cứu tín dụng ngân hàng đối với hộ gia đình tập trung trên hai khía cạnh là tiếp cận vốn tín dụng và sử dụng vốn tín dụng giữa hai chủ thể là NHTM và các hộ gia đình. Đối với khía cạnh tiếp cận vốn tín dụng, Mamo Girma et al (2015) khẳng định tiếp cận vốn tín dụng không chỉ bị chi phối bởi thu nhập và tài sản mà các yếu tố về đ c điểm kinh tế - xã hội của các chủ hộ sẽ ảnh hƣởng đến việc tiếp cận vốn tín dụng (Mamo Girma et al, 2015, Determinants of Formal Credit Market Participationby Rural Farm Households: Micro-level evidence from Ethiopia. Paper for presentation at the 13th International Conference on the Ethiopian Economy. Ethiopian Economic Association (EEA) Conference Centre, Addis Ababa, Ethiopia, July 23-25, 2015.
School of Business and Economics). Theo Paul Mpuga (2008, Constraints in Access to and Demand for Rural Credit: Evidence from Uganda, African Development Bank, Tunis – Tunisia) có hai yếu tố chính ảnh hƣởng đến nhu cầu tín dụng, từ đó tác động đến trực tiếp đến tiếp cận tín dụng của hộ. Thứ nhất: Đ c điểm của cá nhân và hộ gia đình. Các đ c điểm của cá nhân có ý nghĩa lớn đến nhu cầu tín dụng gồm tuổi tác, giới tính, giáo dục, nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân.
Ngƣời trẻ thƣờng có xu hƣớng vay mƣợn nhiều hơn để đầu tƣ do bản thân họ có sức khỏe, thời gian để tích lũy và làm giàu hơn so với ngƣời già. Nhu cầu chi tiêu phi nông nghiệp của ngƣời trẻ cũng phong phú hơn. Sự thay đổi của tuổi tác có thể làm thay đổi nhu cầu tín dụng theo thời gian. Giới tính cũng là yếu tố quyết định đến nhu cầu tín dụng của cá nhân.
Cá nhân có trình độ giáo dục càng cao thì càng có nhiều khả năng để tạo ra thu nhập ổn định và cao hơn những ngƣời không đƣợc giáo dục, tạo ra nhiều tài sản hơn, có thể tiến hành nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh. Thêm một năm đƣợc giáo dục làm tăng nhu cầu tín dụng khoảng 0,3 và làm tăng cơ hội cho việc tiếp cận tín dụng thành công lên đến 17. Tình trạng hôn nhân cũng ảnh hƣởng đến nhu cầu tín dụng do cá nhân đã lập gia đình sẽ có nhu cầu chi tiêu gia tăng hơn so với ngƣời chƣa lập gia đình. Thứ hai là các thuộc tính của tổ chức tài chính có thể ảnh hƣởng đến quyết định vay hay không vay của cá nhân hộ gia đình là mức lãi suất và các điều khoản cho vay.
Khi 5 thay đổi mức lãi suất cho vay hay điều chỉnh nội dung cho vay sẽ có tác dụng kích thích hay hạn chế khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các hộ gia đình. Nghiên cứu của Ammar Siamwalla và các cộng sự (1990, The Thai rural credit system: Public subsidies, Private information and Segmented markets, The World bank economic review, Vol. 3:271 – 295) khi nghiên cứu về hệ thống tín dụng nông thôn ở Thái Lan đã chỉ ra rằng muốn tăng sự tiếp cận của các hộ nông dân với tín dụng thì phải có sự can thiệp của Chính phủ. Năm 1966, hình thành ra một hệ thống ngân hàng nông nghiệp của Chính phủ và chỉ cho vay hộ gia đình và đến cuối những năm 1970, không chỉ có Ngân hàng nông nghiệp của Chính phủ Thái Lan mà các NHTM trong hệ thống cũng phải tăng các khoản cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp.
Kết quả là có sự mở rộng lớn của tín dụng trong lĩnh vực nông thôn. Đó chính là hoạt động tín dụng ngân hàng. Đối với các nghiên cứu của Diagne Manfred Zeller (1999, Determinants of household access to and participation in formal and informal credit markets in Malawi”. International food policy research institute, Washington, D.C) bằng cách tiếp cận tín dụng của nông hộ tại Malawi, bằng phân tích hồi quy OLS, tác giả đã đƣa ra đƣợc các yếu tố tác động tới mức độ tiếp cận tín dụng của ngƣời dân gồm giá trị đất đai, quy mô lao động, giá phân bón.
Tác giả đã phân tích tác động nghịch và tác động thuận của các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ tiếp cận của các nông hộ. Cũng bằng mô hình định lƣợng với hàm hồi quy Tobit, Duong và Inzumida (2002, Rural Development Finance in Vietnam: A Microeconometric Analysis of Household Surveys." World Development Vol 30 (2): 319-335) đã kết luận các yếu tố chủ yếu tác động đến lƣợng tín dụng ngân hàng của nông hộ là tác động thuận gồm tổng diện tích đất canh tác, giá trị đàn gia súc, tỷ lệ khẩu phụ thuộc, số lƣợng xin vay, tác động nghịch là danh tiếng của hộ. Tuy nhiên các nghiên cứu mới tập trung vào hiệu quả sử dụng vốn vay của các nông hộ, đây chính là khe hở trong bức tranh tổng thể về thị trƣờng tín dụng nông thôn hiện nay 6 Theo Mikkel Barslund và Finn Tarp (2004, Formal and informal rural credit in four province of Vietnam. Studiestraede 6, DK-1455 Copenhagen K., Denmark) đã khảo sát 932 hộ gia đình tại 4 tỉnh của Việt Nam là Long An, Quảng Nam, Hà Tây (cũ) và Phú Thọ trong giai đoạn từ 1997-2002, để xem xét và đánh giá về thị trƣờng tín dụng nông thôn tại Việt Nam.
Kết quả cho thấy, các hộ gia đình có đƣợc nguồn vốn tín dụng thông qua 2 con đƣờng, đó là tín dụng chính thức từ phía các NHTM và tín dụng thay thế hay là tín dụng khác. Các khoản vay từ NHTM gần nhƣ hoàn toàn dùng cho sản xuất và tích lũy tài sản, trong khi các khoản vay khác thì chủ yếu dùng cho hoạt động tiêu dùng. Lãi suất cho vay giảm mạnh vào giai đoạn từ năm 1997- 2002, phản ánh xu thế hội nhập của thị trƣờng tín dụng trong nƣớc. Các yếu tố quyết định đến nhu cầu vay từ NHTM và từ nguồn khác là khác biệt.
Nghiên cứu đã cho thấy bức tranh khá rộng về thị trƣờng tín dụng nông thôn ở Việt Nam và đã khẳng định rằng không phải một hình thức cho vay của các NHTM tại Việt Nam là phù hợp với tất cả ngƣời dân, do đó cần có những NHTM mang tính đ c thù cho thị trƣờng nông thôn nhƣ NHCSXH Việt Nam. Khía cạnh sử dụng vốn tín dụng ngân hàng đƣợc các tác giả đề cập đến dƣới khía cạnh hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh. Yusuf (2011, Determinants of Demand for Microcredit among the Rural Households in South-Western States, Nigeria. Journal of Agriculture and Social Sciences, ISSN Print 1813 – 2235, ISSN Online 1814 – 960X) khi phân tích các yếu tố quyết định nhu cầu tín dụng trong các hộ gia đình nông thôn ở Tây Nam, Nigeria cho thấy kết quả của mô hình đa biến và yếu tố vốn xã hội trong gia đình phụ thuộc vào tiếp cận tín dụng và các biến khác (hạn mức tín dụng và lãi suất) giải thích ý nghĩa các hộ gia đình có nhu cầu về tiếp cận tín dụng.
Tác giả khẳng định yếu tố vốn xã hội ảnh hƣởng đáng kể việc tiếp cận tín dụng có sẵn từ các nguồn khác nhau. Vì vậy, chính sách các nhà sản xuất cần quan tâm trong việc cải thiện điều kiện sống của các hộ gia đình, và đây có thể đƣợc xem là điều kiện để thúc đẩy nguồn vốn xã hội. Theo Develope Bank of Ethiopia 2008 thì điều kiện về đảm bảo nợ vay bằng tài sản 7 ngân hàng đòi hỏi ch t chẽ về m t giá trị tài sản: Ngân hàng định giá lại tài sản thế chấp hàng năm nhằm đảm bảo an toàn thƣờng xuyên cho khoản nợ vay của ngân hàng; các dự án sản xuất trên đất thuê có thể phải thế chấp thêm tài sản bên ngoài và giá trị tài sản đó phải tƣơng đƣơng tối thiểu 100 giá trị khoản vay.