CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. Khái niệm thất nghiệp và tác động của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế-xã hội a. Khái niệm thất nghiệp Thất nghiệp là trạng thái mà trong đó người lao động vì một lý do nào đó mà không có việc làm cho dù mong muốn làm việc.
Phân loại thất nghiệp * Phân theo nguồn gốc thất nghiệp + Thất nghiệp tạm thời: tình trạng thất nghiệp do người lao động cần có thời gian để tìm kiếm việc làm được gọi là thất nghiệp tạm thời. + Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra do sự mất cân đối giữa cung cầu lao động do cơ cấu kinh tế thay đổi. + Thất nghiệp chu kỳ: là loại thất nghiệp xảy ra khi thất nghiệp thực tế chênh lệch với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên do những biến động trong nền kinh tế dẫn tới suy thoái kinh tế. + Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường loại hình này còn được gọi theo lý thuyết cổ điển.
Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức cân bằng thực tế của thị trường lao động. * Phân theo lý do thất nghiệp + Thất nghiệp tự nguyện: là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó. Thất nghiệp loại này thường là tạm thời. Luan van 10 + Thất nghiệp không tự nguyện: thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu về lao động.
+ Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường người lao động sẵn sàng làm việc. Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đó thấp, thất nghiệp loại này thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động. Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển KT-XH + Thất nghiệp là nguyên nhân dẫn đến phân hoá giàu nghèo và tình trạng nghèo đói. Khi người lao động không có việc làm do bất cứ nguyên nhân gì thì hậu quả đầu tiên là đối với bản thân người thất nghiệp, không có thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình.
Cuộc sống của họ sẽ trở nên khó khăn, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Điều này làm cho phân hoá giàu nghèo ngày càng trở nên trầm trọng. + Thất nghiệp làm tăng nghèo đói, từ đó dẫn đến khó chống chọi với dịch bệnh. Có thể thấy, ở các nước có tỷ lệ thất nghiệp cao, đồng nghĩa với cuộc sống đói nghèo, con người gặp phải những khó khăn trong việc đảm bảo cuộc sống mưu sinh hàng ngày.
Tình trạng không đảm bảo vệ sinh do thiếu thốn gây ra nhiều bệnh tật và các dịch bệnh lây lan. + Thất nghiệp kéo theo số lao động nhàn rỗi dễ tham gia vào các hoạt động tệ nạn xã hội gây nên tình trạng bất ổn trong xã hội, giảm sút chất lượng cuộc sống của người dân. Chính phủ sẽ phải mất nhiều thời gian và công sức cũng như của cải vật chất để giải quyết tình trạng thất nghiệp, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế đất nước. + Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động.
Người lao động thất nghiệp tức mất việc làm sẽ mất nguồn thu nhập do đó đời Luan van 11 sống bản thân người lao động và gia đình họ sẽ khó khăn về kinh tế, họ càng khó khăn hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ giáo dục và y tế, sức khoẻ và trình độ hạn chế sẽ ảnh hưởng lâu dài đến năng lực làm việc, ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại để chuyển đổi nghề nghiệp, con cái họ sẽ khó khăn khi đến trường, sức khoẻ họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, để chăm sóc y tế… và từ đó ảnh hưởng đến xã hội. Có thể nói, thất nghiệp đã làm cho người lao động đến bần cùng, chán nản với cuộc sống, với xã hội dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc… + Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên, là sự lãng phí lao động xã hội, nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội. Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa nền kinh tế đang suy thoái, suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư (vì vốn ngân sách bị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm).
Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến bờ vực lạm phát. Mối quan hệ nghịch lý giữa tăng trưởng kinh tế - thất nghiệp và lạm phát luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) giảm thì tỷ lệ thất nghiệp tăng và lạm phát tăng theo; ngược lại, tốc độ tăng trưởng (GDP) tăng thất nghiệp sẽ giảm, kéo theo tỷ lệ lạm phát cũng giảm. Mối quan hệ này cần được quan tâm khi tác động vào các nhân tố kính thích phát triển - xã hội.
+ Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống… tăng lên, hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm… Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm… Từ đó có thể có những xáo Luan van 12 trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị. + Thất nghiệp ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý xã hội, con người được làm việc trước hết là nhằm tạo ra thu nhập để ổn định cuộc sống. Không có việc làm đồng nghĩa với không có thu nhập, cuộc sống khó khăn con người trở nên cùng quẫn, dẫn đến buồn chán với những suy nghĩ và hành động tiêu cực.
Lao động và việc làm còn thể hiện được vai trò và vị trí của con người trong xã hội. Không có việc làm con người cảm thấy bơ vơ như bị bỏ rơi gây tâm lý hụt hẫng. Ngoài ra qua lao động con người luôn thể hiện được khả năng của mình và không ngừng nâng cao và hoàn thiện khả năng ấy, thông qua lao động con người cũng không ngừng được giao tiếp và học hỏi từ đó con người ngày càng hoàn thiện khả năng lao động cùng nhân cách của họ. Như vậy, lao động làm cho con người ngày càng hoàn thiện, vì thế nếu không có việc làm con người không thể phát triển và họ luôn cảm thấy họ bị bỏ ra ngoài lề xã hội.
Không có việc làm không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý của bản thân người thất nghiệp mà còn ảnh hưởng đến những người thân của họ. Từ những khó khăn trong cuộc sống và sự tổn thương về tâm lý làm cho người thất nghiệp dễ có những hành vi ảnh hưởng đến sự ổn định và an toàn xã hội. Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội khó khăn và nan giải của quốc gia, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt đời sống kinh tế - xã hội. Giải quyết tình trạng thất nghiệp không phải “một sớm, một chiều”, không chỉ bằng một chính sách hay một biện pháp mà phải là một hệ thống các chính sách đồng bộ, phải luôn luôn coi trọng trong suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Bởi lẽ, thất nghiệp luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường và tăng (giảm) theo chu kỳ phát triển của nền kinh tế thị trường. Khái niệm giải quyết việc làm Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng Luan van 13 đồng và xã hội. Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả. Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình.
Trong đó, có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình góp phần xây dựng quê hương đất nước. Giải quyết việc làm có thể được hiểu ở một số khía cạnh sau đây: Thứ nhất, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất. Số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư, tiến bộ khoa học – kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó. Thứ hai, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động.
Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và sự di chuyển của lao động, chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục đào tạo, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Thứ ba, thực hiện các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao, các giải pháp về quản lý thị trường, kỹ thuật… nhằm nâng cao hiệu quả của việc làm. Chỉ khi nào trên thị trường người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm được hình thành. Giải quyết việc làm cần phải được xem xét cả phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của Nhà nước.
Như vậy "giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người có khả năng lao động để có thể có việc làm" Với khái niệm nêu trên, giải quyết việc làm không chỉ là nhiệm vụ chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động.