CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐÓI VỚI HỘ CẬN NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.8 CAN THIET CHO VAY UU DAI DOI VOI HO CAN NGHEO 1. Một số khái niệm ~ Hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Theo quy định tại u 106 Bộ luật dân sự thì "hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc lĩnh vực này”. Đặc điểm của hộ cận nghèo Có những đặc điểm chủ yếu cần được nhận thức để có những chính sách phù hợp trong quan hệ tín dụng: - Hộ ân nghèo thiếu vốn, hạn chế áp dụng tiến bộ kỹ thuật và mô hình mới trong sản xuất, thiếu kỹ năng quản lý kinh doanh.
- Phong tục, tập quán sinh hoạt và những truyền thống văn hóa của người từng vùng cũng tác động đến nhu cầu vốn sản xuất và nhu cầu tín dụng. - Hộ cận nghèo chưa quan tâm đến đầu tư khoa học, kỹ thuật và công. nghệ trong sản xuất; kỹ năng trong quản lý kinh doanh. - Trong quan hệ dân sự, hộ cận nghèo việc chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đắt thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải được tắt cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự.
- Quy mô sản xuất của hộ cận nghèo khép kín trong phạm vi gia đình. - Đa dạng về ngành nghề sản xuất, kinh doanh. ~ Tuy nhiên, hộ sản xuất có quy mô nhỏ cho nên rắt linh hoạt, dễ thích. ứng với kinh tế thị trường.
Khi nhu cầu của người dân tai khu vực hộ cận nghèo và nhu cầu thị trường thay đổi. Hộ cận nghèo thay đổi đối tượng sản xuất, ngành nghề kinh doanh để đáp ứng nhu cầu kịp thời của thị trường. Do vậy, việc nuôi con gì, trồng cây nào, kinh doanh mặt hàng nào luôn được thay đổi. Những thay đổi đó sẽ ảnh hưởng đến qui hoạch, phát triển địa phương.
Sự cần thiết phải cho vay ưu đãi đối với hộ cận nghèo. Đối với hộ cận nghèo - Hộ cận nghèo vay vốn mở rộng sản xuất góp phần giải quyết việc làm thường xuyên, nâng cao thu nhập của bộ phận lao động nông thôn. Qua đó, nâng cao đi g, ôn định an ninh trật tự xã hội. - Thúc day sản xuất hàng hóa phát triển, hộ cận nghèo cũng là nhân tố của quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa.
Để tham gia quá trình đó, hộ cận nghèo cũng đã áp dụng những tiến bộ khoa học trong sản xuất kinh doanh, cũng như tính thích ứng thị trường, thông qua tính tích cực khi đầu tư vốn cho hộ cận nghèo tạo được những chuyền biến trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa tại mọi vùng miễn. - Góp phần tăng tích lũy thu nhập, hộ cận nghèo được đầu tư vốn, khoa học kỷ thuật, kỷ năng quản lý sẽ không ngừng cải tiến sản xuất, mở rộng kinh doanh góp phân vào sự phát triển kinh tế, qua đó không ngừng nâng cao thu nhập. cho người dân, dan có ý thức trả nợ, vươn lên làm giàu. Đối với xã hội - Cho vay hộ cận nghèo phản ánh rõ nét sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phát triển kinh tế xã hội.
- Cho vay hộ cận nghèo tạo điều kiện thu hút lao động mới, nhờ vậy tình trạng thiếu việc làm sẽ được giải quyết, góp phần khắc phục và giảm các tệ nạn xã hội đang có nguy cơ phát - Cho vay hộ cận nghèo giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, khắc phục bớt những bắt cập và khiếm khuyết về mặt xã hội của nền kinh tế thị trường, sự công bằng của những hộ nghèo, cận nghèo và hộ có kinh tế khá được bảo đảm. hộ cận nghèo nếu được khuyết khích sẽ có gắng lao động tạo ra của cải cho xã hội. Đối với NHCSXH Tại vùng khó khăn, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa việc thiếu vốn và kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh đi liền với sụ tụt hậu và đói nghèo. Để tạo điều kiện cho những hộ cận nghèo có điều kiện cải tạo đất đai, nâng cấp giống cây trồng vật nuôi, mở rộng sản xuất , tín dụng chính sách là “chìa khóa vàng” iúp nâng cao đời sống vật chất của người dân, phát triển hạ tầng nông thôn và ôn đỉnh xã hội.
NHCSXH đã làm được: ~ Giảm tệ nạn cho vay nặng lãi đối với hộ cận nghèo do hoàn cảnh bắt buộc hoặc để chỉ dùng cho sản xuất, hoặc để mở rộng sản xuất cho kịp mùa vụ, đáp ứng thì trường họ phải chấp nhận vay tín dụng đen với lãi suất cao. Chính vì thế khi nguồn vốn tín dụng ưu đãi đến tận tay hầu hết hộ cận nghèo, thì các chủ cho vay nặng lãi sẽ không có thị trường hoạt động. ~ Giúp hộ cận nghèo và người nghèo có việc làm, nâng cao kiến thức được tiếp cận sản xuất hiện đại trong nền kinh tế thị trường. Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho sản xuất kinh doanh để xoá đói giảm nghèo, thông qua kênh tín dụng thu hồi vốn và lãi đã buộc những người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao.
Để làm được điều đó họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý từ dó tạo cho họ tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỳ được kinh nghiệm 10 trong công tác quản lý kinh tế. Mặt khác, khi số đông người nghèo đói tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá thông qua việc trao đồi trên thị trường làm cho họ tiếp cận với kinh tế thị trường một cách trực tiếp. - Cung ứng vốn cho hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác cũng đã góp phần xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của Đảng. ~ Xoá đói giảm nghèo và xây dụng nông thôn mới là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành.
Tín dụng ưu đãi thông qua các quy định về mặt nghiệp vụ cụ thể của nó như việc bình xét công khai những người vay vốn, tạo ra sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể chính trị xã hội, các cấp uỷ, chính quyền, đã có tác dụng: ~ Tăng cường hiệu lực của cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo. kinh tế ở địa phương. ~ Tạo ra sự gắn bó giữa hội viên, đoàn viên với các tô chức hội đoàn thể của mình, thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế gia đình, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội thông qua việc vay vốn. - Thông qua các tổ tương hỗ được thành lập bởi các tổ chức hội đoàn thể sẽ tạo điều kiện cho những hộ cận nghèo và chính sách vay vốn có cùng hoàn cảnh được gần gủi, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau tăng cường tình làng, nghĩa xóm, tạo niềm tin đối với Đảng, Nhà nước.
Qua đó, quá trình xây dựng nông thôn mới sẽ chuyển biến tích cực, đoàn kết, dân chủ và thành công 1. HOAT DONG CHO VAY HO CAN NGHEO CUA NHCSXH 1. Khái niệm và đặc điểm NHCSXH a. Khái niệm Ngân hàng Chính sách xã hội Ngân hàng Chính sách là một ngân hàng đặc biệt, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà để thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi của nhà nước đối với một số đối tượng cụ thể.
ll Nền kinh tế thị trường trong quá trình phát triển tuy phù hợp nhưng. cũng có những mặt trái của nó như: sự phân hóa giàu nghèo, sự thiếu cân bằng trong đầu tư. Nền kinh tế thị trường sẽ tồn tại những ngành hàng, những khu vực. tượng khách hàng có sức cạnh tranh kém, không đủ các điều kiện để tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại như các ngành hàng mang tính lợi ích công cộng, những khu vực miễn núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện thời tiết khắc nghiệt, chỉ phí đầu tư cao, rủi ro lớn, do đó các ngân hàng thương mại (NHTM) rất ít đầu tư vào khu vực này, mặt khác nhiều hộ dân, tổ chức kinh tế ở vùng này thiếu vốn nhưng không đủ các điều kiện để vay vốn các Ngân hàng thương mại.
Tùy điều kiện và quan điểm của mỗi quốc gia, Chính phủ sẽ lập các kênh tín dụng hoặc các ngân hàng chuyên biệt để thực chính sách cho vay các nhóm đối tượng này. Như vậy, các khoản tín dụng chính sách là các khoản cho vay chỉ định để hỗ trợ các chính sách kinh tế -xã hội của Chính phủ. Đây là việc cho vay phi thương mại đối với các hoạt động mà không đáp ứng các tiêu chí thương mại nhưng lại có tác động xã h và chính trị quan trọng trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Các Ngân hàng được thiết lập để chuyên thực hiện tín dụng chính sách của Chính phủ được gọi là loại hình Ngân hàng Chính sách.
Các mô hình phổ biến trên thế giới về việc hình thành các NH chính. sách thường bao gồm hai loại hình chính: - Ngân hàng Chính sách phục vụ chính sách phát triển kinh tế theo định hướng của nhà nước, thường được gọi là Ngân hàng phát triển. - Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách xã hội của Nhà nước thường được gọi là NH chính sách xã hội. Đặc điễm Ngân hàng Chính sách xã hội - Đặc điểm về mô hình tô chức: 12 Ngân hàng chính sách xã hội là một loại hình ngân hàng đặc thù, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do đó mô hình tổ chức của nó cũng có những đặc điểm riêng.
Đối tượng phục vụ của Ngân hàng Chính sách xã hội là những khách hàng do Chính phủ chỉ định theo chính sách từng thời kỳ. Đây là những khách hàng không có điều kiện tiếp cận với các tổ chức tín dụng thông thường; nói cách khác là các khách hàng phi thương mại không đủ điều kiện vay vốn của các ngân hàng thương mại. Loại hình Ngân hàng chính sách xã hội chủ yếu là ngân hàng thuộc sở.