phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 04 phần: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam, Chi nhánh Bắc Ninh Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng việt nam - Chi nhánh Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI tại ngân hàng TMCP Công thƣơng việt nam - Chi nhánh Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP FDI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Hội nhập đã và đang trở thành một xu thế tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới hiện nay do những lợi ích thƣờng vƣợt trội so với những rủi ro mà nó mang lại, tùy thuộc mức độ sẵn sàng và tính cạnh tranh của mỗi nền kinh tế. Việt Nam đã nỗ lực để trở thành một phần có đóng góp tích cực của nền kinh tế toàn cầu, là thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức thƣơng mại Thế giới (WTO) ngày 07/11/2006; và hiện đang tiến hành các vòng đàm phán TPP cũng nhƣ chuẩn bị cho việc hội nhập chính thức vào cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Quá trình hội nhập đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện một loạt các cam kết về tự do thƣơng mại. Cũng nhƣ các lĩnh vực khác của nền kinh tế, lộ trình hội nhập đối với lĩnh vực ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác đang đƣợc thực hiện theo đúng cam kết.
Hội nhập xét một cách toàn diện có rất nhiều lợi ích nếu biết tận dụng tốt nhƣng đồng thời cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro đối với nền kinh tế trong nƣớc nói chung cũng nhƣ hệ thống tài chính mà cụ thể ở đây là lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Sau gần 10 năm hội nhập WTO, hệ thống ngân hàng của Việt Nam cũng nhƣ thể chế quản lý ngày một hoàn thiện và nâng cao. Số lƣợng các tổ chức tín dụng (TCTD) ngày càng gia tăng, trong đó số lƣợng ngân hàng nƣớc ngoài, từ 28 chi nhánh năm 2004 đã tăng lên 52 chi nhánh năm 2016; ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài từ không có ngân hàng nào năm 2004, sau 1 thập kỷ đã có 9 ngân hàng. Với sự tham gia ngày càng sâu rộng của các ngân hàng nƣớc ngoài khiến cho môi trƣờng cạnh tranh trong nƣớc ngày càng đƣợc đẩy mạnh.
Điều này đòi hỏi hệ thống các ngân hàng trong nƣớc buộc phải có những thay đổi trong quản trị, tăng năng lực tài chính, đầu tƣ vào công nghệ, nâng cao 4 chất lƣợng dịch vụ ngân hàng để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nƣớc ngoài. Bằng việc đầu tƣ một cách có chiều sâu, các ngân hàng trong nƣớc đang từng bƣớc đứng vững trên thị trƣờng và tạo lập đƣợc thị phần riêng ổn định. Cho vay là nghiệp vụ chính, xuyên suốt quá trình hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại đồng thời cho vay cũng chính là mảng nghiệp vụ đem lại lợi nhuận cao nhất cho các ngân hàng. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (FDI) đầu tƣ vào Việt Nam ngày càng nhiều đòi hỏi các NHTM phải chuyển mình theo xu hƣớng chung để phục vụ các doanh nghiệp FDI về nguồn vốn, các sản phẩm dịch vụ, sản phẩm thanh toán.
Chính vì lẽ đó, mà các đề tài nghiên cứu ứng dụng hoạt động cho vay tại các NHTM luôn đƣợc đông đảo các nghiên cứu sinh chọn làm đề tài tốt nghiệp Việt Anh, 2010. Hội nhập và mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng. Mai Thị Quỳnh Nhƣ, 2015. Thực trạng cho vay doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Đai học Duy Tân Lƣơng Minh Loan, 2016. Dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI tại Ngân hàng TMCP công thƣơng Việt Nam. Luận văn thạc sỹ. Trƣờng Đại học kinh tế Đại học quốc gia Hà Nội.
Dƣơng Thị Kim Oanh, 2009. Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam. Luận văn thạc sỹ. Trƣờng Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh Nguyễn Kiều Khanh, 2015.
Cho vay doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam- chi nhánh TP Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sỹ. Trƣờng Đại học Mở TP Hồ Chí Minh 5 Trần Minh Nhật, 2012. Cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Quân Đội- Chi nhánh Sài Gòn- Phòng giao dịch Nguyễn Tri Phƣơng.
Luận văn thạc sỹ. Trƣờng đại học Hoa Sen. Châu Thị Lệ Duyên. Hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Công thƣơng Cần Thơ.
Luận văn thạc sỹ. Trƣờng đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Trần Thị Minh Hiền. Phân tích tình hình cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đông Á- Đà Nẵng. Luận văn thạc sỹ.
Đại học Đà Nẵng. Việc nghiên cứu tình hình cho vay các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp FDI đã có nhiều tác giả, nhiều nghiên cứu sinh lựa chọn phân tích. Tuy nhiên điểm mới trong nghiên cứu khóa luận “Hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” là tập trung vào phân tích tình hình cho vay doanh nghiệp FDI của Vietinbank Bắc Ninh trong bối cảnh Bắc Ninh đang thu hút nhiều doanh nghiệp FDI với quy mô hàng chục tỷ USD vào đầu tƣ. Từ đó đƣa ra những điểm hạn chế, những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động cho vay FDI tại Vietinbank Bắc Ninh, góp phần thúc đẩy việc thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào tỉnh Bắc Ninh nói riêng và vào Việt Nam nói chung, qua đó góp phần thúc đẩy đời sống kinh tế xã hội tại tỉnh Bắc Ninh 1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI 1.1 Hoạt động cho vay - Cho vay doanh nghiệp là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng thoả thuận để khách hàng là doanh nghiệp sử dụng một khoản tiền với mục đích doanh nghiệp theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.
6 - Nghiệp vụ cho vay là một trong những nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và phát triển của bất kỳ một ngân hàng thƣơng mại nào. Thông thƣờng, với nguồn vốn huy động đƣợc, sau khi để dành một phần dự trữ, các ngân hàng thƣơng mại có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân, hoặc đầu tƣ nhằm mục đích sinh lời. Với loại hình nghiệp vụ này, ngân hàng thƣơng mại sẽ cho ngƣời đi vay, vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tƣ hoặc doanh nghiệp FDI và khi đến hạn ngƣời đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi. Do hoạt động cho vay có mức độ rủi ro khá lớn, nhƣ trƣờng hợp không thu hồi đƣợc nguồn vốn do ngƣời đi vay trả không hết hoặc không đúng hạn… vì các chủ quan hoặc khách quan nên khi cho vay các ngân hàng thƣờng sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay nhƣ thế chấp, cầm cố… 1.2 Hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI 1.1 khái niệm: Cho vay doanh nghiệp FDI là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng thoả thuận để khách hàng là doanh nghiệp FDI sử dụng một khoản tiền với mục đích doanh nghiệp FDI theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.
Về bản chất, cho vay doanh nghiệp FDI là ngân hàng tài trợ cho các nhu cầu sử dụng vốn (sử dụng đầu tƣ cho các dự án, phƣơng án sản xuất kinh doanh) của doanh nghiệp FDI.2 Đặc điểm của hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI - Khách hàng vay vốn là doanh nghiệp FDI: + Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), trong Từ điển thuật ngữ thống kê ban hành năm 2008: “FDI là doanh nghiệp trong đó nhà ĐTNN sở hữu 10% hoặc nhiều hơn số cổ phần phổ thông hoặc quyền biểu quyết”. Tiêu chí quan trọng nhất mà OECD đƣa ra là “có tiếng nói trong việc 7 quản trị DN”. Theo định nghĩa trên, nhà ĐTNN chỉ cần có ảnh hƣởng, có tham gia điều hành, chứ không cần có quyền kiểm soát DN, thì DN đó đƣợc coi là DN có vốn ĐTNN. + Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tƣ 2015 định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tƣ tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
Pháp luật hiện hành quy định tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài hoặc tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài theo các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Bên cạnh các quy định của pháp luật áp dụng chung, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên và để thuận lợi cho công tác quản lý đầu tƣ, pháp luật về doanh nghiệp và về đầu tƣ áp dụng riêng đối với đầu tƣ nƣớc ngoài về lĩnh vực đầu tƣ có điều kiện, về quy định trong việc thành lập công ty cổ phần, doanh nghiệp tƣ nhân, về thủ tục đầu tƣ, về đầu mục hồ sơ dự án đầu tƣ và về địa điểm thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Từ những khái niệm trên, ta có thể hiểu khái quát khái niệm FDI nhƣ sau: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tƣ ở một nƣớc khác đƣa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào vào quốc gia đó để đƣợc quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình.” Tài sản trong khái niệm trên, theo thông lệ quốc tế, có thể đƣợc hiểu là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, bất động sản,…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bằng sáng chế, bản quyền,…) hay tài sản tài chính khác (cổ phiếu, trái phiếu, cổ phần,…). Nhƣ vậy, FDI bao giờ cũng là một quan hệ kinh tế có nhân tố nƣớc ngoài.