mở đầu tọa đàm với việc phân định lại khái niệm "lịch sử", "khoa học lịch sử" và "tiểu thuyết lịch sử". Ông cho rằng, lịch sử là người câm đã đi mất. Người làm khoa học lịch sử cũng chỉ là người ghi ch p lại theo quan điểm của cá nhân họ. Chỉ có người nghệ sĩ là chạm đến những khát vọng của lịch sử, khơi mở những vấn đề ẩn khuất và lay động con người [57].
Ý kiến của Phạm Toàn là để xác lập một ranh giới tự do cho các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử, loại trừ những tranh cãi về tính đúng - sai, sự thật - hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử. Trần Đình Sử cho rằng, Nguyễn Xuân Khánh là người có tư tưởng riêng chứ không minh họa cho tư tưởng nào khác. Ông viết lịch sử là để viết về con người, về những giá trị nhân văn trong đời sống. Nhà nghiên cứu La Khắc Hòa cho biết, ông nhìn thấy ở Nguy n Xuân Khánh sự đ i mới tác phẩm tự sự từ nguyên tắc sử thi trước 1975 sang nguyên tắc của tiểu thuyết.
Đó là, thay vì "ôn lại" những câu chuyện mà ai cũng biết của một cộng đồng lớn để chuyển sang câu chuyện của mình, về mình [57]. Còn chính tác giả Nguy n Xuân Khánh thì chia sẻ ông không viết với tư cách một người truyền giáo, mà chỉ giới thiệu một lối sống trong thời hiện đại. Cũng như thế, lịch sử chỉ là cái đinh treo để nhà văn bày tỏ những cái nhìn về cuộc sống [57]. Nhìn lại những cuộc tranh luận trên, có thể thấy có hai khuynh hướng quan niệm: một là coi văn chương là mô hình phản ánh hiện thực, tức là đòi hỏi văn học nghệ thuật phải theo sát và trung thực với thực tế; hai là nhìn văn học như một hình thức nghệ thuật để chiêm nghiệm và suy tư về hiện thực.
Theo quan niệm thứ hai này, văn học có thể và có quyền độc lập nhất định với thực tế, với sự thật lịch sử. Thực chất đây là những vấn đề đã được đúc kết căn bản trong công trình Tiểu thuyết lịch sử viết trong hai năm 1936, 1937) của G. Lucacs – triết gia, nhà văn, nhà phê bình văn học người Hung-ga-ri. Ông cho rằng ở lĩnh vực xây dựng tiểu thuyết lịch sử, tài năng của nhà văn bộc lộ qua việc phản ánh những nguyên nhân dẫn đến sự thật trong trái tim con người, những sự thật mà các biến động của chúng đã bị giới 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sử học bỏ qua: Các nhà tiểu thuyết lịch sử phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử, vì các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử được trao cho họ sự sống, còn các cá nhân lịch sử thì đã sống [7, 41].
Lucacs đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa tiểu thuyết lịch sử c điển và tiểu thuyết lịch sử ngày nay ở chỗ: tiểu thuyết lịch sử ngày nay gắn bó với những vấn đề thời sự lớn của thời hiện tại. Điểm yếu của tiểu thuyết lịch sử ngày nay là: chỉ bước đầu nêu những dấu hiệu khởi đầu thuộc về tư tưởng làm chuyển động thời hiện tại mà không vạch ra được những sự kiện ban đầu, cụ thể của số phận nhân dân, điều mà trong thời kỳ c điển của nó tiểu thuyết lịch sử đã làm được [7, 43]. Vậy cái gì là quan trọng trong tiểu thuyết lịch sử? Theo G. Lucacs, viết tiểu thuyết không nên biến tác phẩm thành một luận văn lịch sử mang tính chất giáo huấn và những quy chiếu lộ li u về hiện tại vì mối quan hệ sinh động với hiện tại thể hiện ngay chính trong sự được mô tả của lịch sử, và tự nó s nói lên [7, 43].
Hoàng Hoa Thám và cuộc khởi nghĩa Yên Th 1. Cuộc đối đầu Việt – Pháp những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Năm 1858, cuộc xâm lược quân sự đầu tiên của Pháp chinh phục đế chế An Nam chính thức di n ra tại Đà Nẵng. Bắt đầu từ đây là thời kỳ chinh phục và bình định của thực dân Pháp. Không chấp nhận thân phận nô lệ, phong trào kháng Pháp n i lên khắp nơi, từ Bắc đến Nam, nhất là Nam Kỳ.
Tuy nhiên triều đình phong kiến đi ngược lại với nguyện vọng của quần chúng và sĩ phu yêu nước. Sau thất bại của Nguy n Tri Phương, triều đình Tự Đức đã vội vã cắt đất cầu hòa, năm 1862 - ba tỉnh miền Đông, năm 1867 - ba tỉnh miền Tây, k các Hiệp ước Hácmăng Harmand) năm 1883 và Patơnốt Patenôtre) năm 1884, đầu hàng thực dân Pháp, gây phẫn nộ lớn trong nhân dân. Tại Huế phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu, đưa Hàm Nghi, dời khỏi kinh thành Huế, ra Tân Sở Quảng Trị), hạ chiếu Cần vương tập hợp các nhân sĩ yêu nước tiếp tục chống Pháp. Hành động xuất bôn của vua Hàm Nghi đã th i bùng phong trào đấu tranh của sĩ phu và nhân dân cả nước, sử gọi là phong trào Cần vương.
Phong trào Cần vương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang trên khắp cả nước, k o dài từ 1885 cho đến 1896. Mặc dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần vương vẫn phát 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển, nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ. Sau cái chết của Phan Đình Phùng (1895), phong trào Cần vương gần như chấm dứt ở miền Trung. Nhưng ở miền Bắc, những cuộc khởi nghĩa vẫn tiếp di n mà tiên biểu là phong trào Yên Thế.
Đến khi hoàn thành chiến dịch bình định quân sự, Pháp chuyển sang khai thác thuộc địa, biến Việt Nam thành xứ thuộc địa nằm trong Liên hiệp Pháp thì các phong trào ái quốc chuyển sang một hình thái mới: yêu nước – duy tân. Đầu thế kỷ XX, các nhà nho canh tân, tuy chủ trương đối phó với thực dân Pháp có thể khác nhau, song đều tán thành việc cải cách văn hóa, mở mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế để tự cường, với hai nhân vật đại diện là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh9. Như vậy, kể từ khi thực dân Pháp xuất hiện, phong trào yêu nước ở Việt Nam đã di n ra liên tục, thể hiện thức dân tộc, tinh thần chống ngoại xâm mạnh m. Những đặc điểm trên đã chi phối vào sự phát triển của văn học, nhất là văn học yêu nước chống thực dân, với khuynh hướng viết về chân dung các vị anh hùng dân tộc, trong đó có nhân vật lịch sử Hoàng Hoa Thám và cuộc khởi nghĩa Yên Thế.
Diễn tiến vắn tắt của cuộc khởi nghĩa Yên Thế và vai trò lịch sử của Hoàng Hoa Thám qua nguồn sử liệu Pháp, Việt 1. Sử liệu và ghi ch p của Pháp Theo Kh ng Đức Thiêm10, tài liệu sớm nhất viết về cuộc khởi nghĩa Yên Thế và thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám là cuốn “Giặc giã và thổ phỉ ở Bắc Kỳ. Quân đội 9 Những năm tiếp theo đã di n ra Phong trào yêu nước dân chủ công khai của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới. Họ lập ra nhiều t chức chính trị như: Việt Nam Nghĩa đoàn, Phục Việt (1925), Hưng Nam, Thanh niên cao vọng (1926); thành lập nhiều nhà xuất bản như Nam Đồng thư xã Hà Nội), Cường học thư xã (Sài Gòn), Quan h i tùng thư Huế); ra nhiều báo chí tiến bộ như Chuông rạn (La Cloche fêlée), Người nhà quê (Le Nhaque), An Nam trẻ (La jeune Annam).
Có nhiều phong trào đấu tranh chính trị gây tiếng vang khá lớn như đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu 1925), l truy điệu và để tang Phan Châu Trinh, đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Nguy n An Ninh 1926). Cùng với phong trào đấu tranh chính trị, tiểu tư sản Việt Nam còn tiến hành một cuộc vận động văn hóa tiến bộ, tuyên truyền rộng rãi những tư tưởng tự do dân chủ. Tuy nhiên, càng về sau, cùng sự thay đ i của điều kiện lịch sử, các phong trào trên đây ngày càng bị phân hoá mạnh, và cũng rơi vào thoái trào. 10 Trong phần sử liệu và ghi ch p của người Pháp về Hoàng Hoa Thám, chúng tôi chủ yếu dựa vào cuốn Hoàng Hoa Thám (1836 – 1913) của tác giả này.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chúng ta ở Yên Thế” (Pirates et rebelles au Tonkin. Nos soldats au Yen The) do đại tá Frey, người trực tiếp chỉ huy chiến dịch đánh chiếm đồn Hố Chuối di n ra từ cuối tháng 12/1890 đến đầu tháng 1/1891) viết. Cuốn sách xuất bản tại Pari năm 1892. Ngay trong phần mở đầu, người viết đã mô tả khá k về địa bàn và vị trí chiến lược của vùng Yên Thế, những hoạt động chống Pháp quyết liệt cùng những chiến công, những địa danh như: Hố Chuối, Cao Thượng, Dương Sặt, Phù Khê, nhất là khu vực Hữu Thượng với các làng Thuống, làng Mạc, làng Vàng… mà nghĩa quân Yên Thế đã giành được, đặc biệt trong khoảng một năm từ tháng 6/1890 đến tháng 6/1891.
Gần với thời điểm xuất hiện tài liệu ghi ch p của Frey là cuốn “Những cuộc hành quân tại Bắc Kỳ” (Opérationns militaires au Tonkin) tác giả Chabrol - sĩ quan Pháp xuất bản tại Paris năm 1896. Cuốn sách ghi lại quá trình xâm lược bình định xứ Bắc Kỳ của người Pháp. Trong những ghi ch p của mình, Chabrol đã mô tả khá k về Hoàng Hoa Thám và những hoạt động của nghĩa quân Yên Thế, trong đó nhấn mạnh tới phạm vi và vùng ảnh hưởng của người thủ lĩnh cũng như nghĩa quân khá rộng: Từ Bắc Giang, Bắc Ninh đến tận Hà Nội. Chabrol cho rằng vai trò thực sự của Đề Thám được khẳng định vào năm 1894, sau cái chết của Đề Nắm và sự phản bội của Bá Phức.
Trước đó, Đề Thám chưa phải là đối tượng của người Pháp, phải đến một loạt sự kiện như trận đánh ở Hố Chuối 18/5/1895), làng Nứa (17/8/1894), Cầu R 22/8/2894), Ao Khuya 9/9/1894), Đề Thám bắt được hai người Âu thì vai trò của ông mới thật sự trở thành mối lo thường xuyên của chính quyền thực dân. Vụ bắt cóc này đã dẫn đến việc k kết ngày 23/10/1894 giữa Đề Thám và chính quyền bảo hộ.[52, 34-35] Nếu như cuốn sách của Chabrol có tính chất khảo cứu về giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Yên Thế thì “Người đương thời. Đề Thám” L’homme du jour. Le De Tham) do Maliverney, chủ bút báo Tương lai xứ Bắc Kỳ (Avenir du Tonkin), xuất bản tại Hà Nội năm 1909 là tập hợp một khối lượng lớn tài liệu sinh động.
Trong cuốn này có những bức ảnh chụp phong cảnh Yên Thế, Đề Thám, các thủ lĩnh nghĩa quân cùng địa thế đồn Phồn Xương.