phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các trƣờng THCS trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trƣờng THCS trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Theo Điều 2 nghị định 16/2015/NĐ- CP của Chính phủ ban hành ngày 14/02/2015 “Quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập”,“đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc”. Theo Giáo trình “Quản trị tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp” Đại học Lao động-xã hội, nhà xuất bản Tài chính năm 2008,đơn vị sự nghiệp công lập là “đơn vị đƣợc Nhà nƣớc thành lập để thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính, đảm bảo anh ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội, các đơn vị này đƣợc Nhà nƣớc cấp kinh phí và hoạt động theo nguyên tắc không bồi hoàn trựctiếp”. Theo giáo trình “Tài chính Hành chính sự nghiệp” chủ biên Th.
Phạm Duy Linh, nhà xuất bản tài chính năm 2008, đơn vị sự nghiệp Nhà nƣớc (Đơn vị sự nghiệp công lập) là “ các đơn vị có hoạt động cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội và các hàng hóa, dịch vụ khác trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, nông - lâm ngƣ nghiệp, kinh tế., nhằm duy trì hoạt động bình thƣờng của các ngành kinh tế quốc dân. Đặc tính chủ yếu của các đơn vị sự nghiệp là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mang tính chất phục vụ cộng đồng là chính”. Sau khi nghiên cứu các khái niệm trên, tác giả đã rút ra những vấn đề chung từ đó bổ sung, hoàn thiện khái niệm nhằm làm cơ sở triển khai luận văn nhƣ sau: e 11 Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc. Đơn vị sự nghiệp công lập gồm: - Đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chƣa đƣợc giao quyền tự chủ).
- Đơn vị sự nghiệp công lập chƣa đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chƣa đƣợc giao quyền tự chủ). Hành chính sự nghiệp (HCSN) là khái niệm đƣợc sử dụng để chỉ lĩnh vực hoạt động thuộc về quản lý nhà nƣớc, quản lý hành chính và các hoạt động phi sản xuất liên quan đến sự nghiệp Giáo dục, Văn hóa nghệ thuật, Khoa học - Công nghệ, Y tế, Quốc phòng, Thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập, thực hiện cung cấp các dịch vụ công cộng và các dịch vụ khác nhằm duy trì hoạt động thƣờng xuyên của ngành kinh tế quốc dân. Đơn vị HCSN là các tổ chức đƣợc hình thành và hoạt động trong lĩnh vực HCSN mà việc quản lý tài chính và thực hiện kế toán ở các đơn vị này chịu sự chi phối trực tiếp của Luật Ngân sách nhà nƣớc. Đặc điểm tổ chức quản lý Do các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập mà trong đó chủ yếu do cơ quan hành chính nhà nƣớc thành lập.
Trong quá trình hoạt động nhà nƣớc cho phép thu các loại phí để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung chi phí hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị. e 12 Đơn vị sự nghiệp có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, có nghĩa là đơn vị sự nghiệp có thu hội đủ bốn yếu tố: đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với các tổ chức, cá nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng các tài sản đó; tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Thực hiện hoạt động sự nghiệp là cung cấp dịch vụ công cho xã hội không nhằm mục đích lợi nhuận. Dịch vụ công có các đặc trƣng cơ bản sau: - Đó những hoạt động phục vụ cho lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân.
- Do Nhà nƣớc chịu trách nhiệm trƣớc xã hội (trực tiếp cung ứng hoặc ủy nhiệm việc cung ứng). Ngay cả khi nhà nƣớc chuyển giao dịch vụ này cho tƣ nhân cung ứng thì Nhà nƣớc vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này, khắc phục các khiếm khuyết của thị trƣờng. - Là các hoạt động có tính chất phục vụ trực tiếp, đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân. - Mục tiêu nhằm bảo đảm tính công bằng và hiệu quả trong cung ứng dịch vụ.
Ngày nay, với sự phát triển của xã hội và đƣợc “cấp quyền” tự chủ, các đơn vị sự nghiệp ngày càng thể hiện rõ chức năng của mình, ngày càng tách khỏi “cái bóng” là cơ quan Nhà nƣớc. Đặc biệt là Quyết định 31/2017/QĐ- TTg về tiêu chí, danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần lại càng thể hiện rõ định hƣớng đó. Yêu cầu và nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập 1.1 Yêu cầu đối với tổ chức công tác kế toán e 13 Để phát huy đầy đủ chức năng, vai trò và thực hiện đấy đủ các nhiệm vụ nói trên, công tác kế toán phải đảm bảo các yêu cầu sau đây: - Kế toán phải chính xác, trung thực, khách quan, thể hiện ở các mặt: + Chứng từ phải chính xác: chứng từ là khâu khởi điểm của kế toán, nội dung và số liệu ghi trên chứng từ đúng với thực tế của các hoạt động kinh tế. Toàn bộ công tác kế toán có chính xác hay không phần lớn phụ thuộc vào khâu lập chứng từ ghi chép ban đầu.
+ Vào sổ phải chính xác: phải ghi chép, kiểm tra, tính toán đảm bảo sự chính xác số liệu, sau đó xếp đặt, lƣu trữ chứng từ đầy đủ, gọn gàng ngăn nắp. + Báo cáo phải chính xác: lập báo cáo phải cẩn thận, kiểm tra số liệu thật chính xác trƣớc khi nộp cho các nơi nhận theo quy định và theo yêu cầu quản lý. Nói chung các thông tin và số liệu kế toán phải đƣợc ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đấy đủ, khách quan đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Các thông tin và số liệu kế toán phải đƣợc ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.
- Kế toán phải kịp thời: Kế toán chính xác nhƣng phải kịp thời mới có tác dụng thiết thực đến công tác điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc cung cấp kịp thời các thông tin phục vụ yêu cấu quản lý. Muốn kịp thời thì nghiệp vụ kinh tế phát sinh lúc nào, ngày nào phải đƣợc tính toán ghi chép phản ánh vào sổ kế toán lúc ấy, ngày ấy. Việc khóa sổ, lập báo cáo quy định vào thời gian nào phải làm đúng không chậm trễ. - Kế toán phải đầy đủ: phải phản ánh đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên cơ sở các chứng từ gốc hợp lệ, hợp pháp không thêm bớt, không bỏ sót và phải phản ánh tất cả các hoạt động kinh tế tài chính, thuộc các loại tài sản của doanh nghiệp.
Thực hiện đầy đủ các nguyên tắc, thủ tục quy định mở đầy đủ các e 14 loại sổ sách cần thiết và lập đầy đủ các báo cáo kế toán theo quy định. - Kế toán phải rõ ràng dễ hiểu, dễ so sánh, đối chiếu: Các công việc của kế toán từ khâu ghi chép nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên các chứng từ gốc đến việc phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế trên các sổ sách kế toán và tổng hợp lại thành các chỉ tiêu kinh tế trên các báo cáo kế toán đều phải đƣợc trình bày một cách rõ ràng dễ hiểu. Những thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải đƣợc giải trình trong phần thuyết minh. Các chỉ tiêu kinh tế do kế toán báo cáo phải phù hợp cả về nội dung và phƣơng pháp tính với các chỉ tiêu kế hoạch để ngƣời đọc báo cáo dễ dàng so sánh đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Các thông tin và số liệu giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh đƣợc khi tính toán và trình bày nhất quán. Trƣờng hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để ngƣời sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch. - Tổ chức kế toán trong đơn vị phải theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Công tác kế toán cũng nhƣ công việc khác trong đơn vị khi tiến hành đều phải thực hiện tiết kiệm chi phí và đạt hiệu quả cao góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động toàn đơn vị. Nhƣng yêu cầu trên đối với kế toán đều phải đƣợc thực hiện đầy đủ.
Tuy nhiên trong từng giai đoạn phát triển và mục đích sử dụng thông tin kế toán mà yêu cầu này hay yêu cầu khác có đƣợc chú trọng hơn.