phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo , phần nội dung gồm 2 chương, 6 mục và 13 tiết. Trong phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp , thời gian đầu tư cho luận văn còn ha ̣n chế , trình độ bản thân người nghiên cứu còn nhiều hạn chế. Kính mong được sự giúp đỡ và đánh giá để đề tài của em đi đến sự hoàn thiện. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 HỌC THUYẾT TAM QUYỀN PHÂN LẬP - NỘI DUNG VÀ SỰ THỂ HIỆN TRONG TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƢỚC Ở MỘT SỐ NƢỚC PHƢƠNG TÂY 1.
Khái niệm và nội dung cơ bản về học thuyết tam quyền phân lập Quyền lực là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu trong lịch sử tư tưởng chính trị nhưng cho đến nay vẫn có sự khác biệt nhất định trong cách hiểu về quyền lực và quyền lực chính trị. Đó là thực tế phải chấp nhận. Tuy nhiên về đại thể cách hiểu sau đây dễ được chấp nhận vì nó phản ánh được những đặc điểm quan trọng nhất của quan hệ quyền lực: Quyền lực là sức mạnh mà nhờ đó một chủ thể (cá nhân, tổ chức, giai cấp hoặc toàn xã hội) có thể bắt các chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình. Theo nghĩa này, quyền lực ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của con người, bởi vì, nó là yếu tố đảm thực hiện hoạt động phối hợp, hoạt động chung của cộng đồng.
Bất kỳ hoạt động chung nào cũng đòi hỏi cần có người tổ chức, người chỉ huy và những kẻ phục tùng - là nội dung sơ khai cũng như nội dung hiện đại của phạm trù quyền lực. Trong xã hội có giai cấp thì vấn đề nổi lên khi xung quanh phạm trù quyền lực đó là quyền lực chính trị trong đó trung tâm là quyền lực nhà nước. Từ điển Luật học (Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp) chỉ ra những đặc điểm cơ bản của quyền lực nhà nước "luôn luôn gắn với sự tồn tại của chính quyền nhà nước; Được phân chia thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Do giai cấp hoặc liên minh các giai cấp thống trị xã hội tổ chức và thực hiện; Được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước" [37, tr. Từ quan niệm trên cần thấy rõ rằng quyền lực nhà nước là sức mạnh của nhà nước có thể bắt các chủ thể khác trong quốc gia (các tổ chức, cá nhân, giai cấp, tầng lớp) phải phục tùng ý chí của nó.
Nhờ có quyền lực này mà nhà nước có đủ khả năng làm dịu xung đột giai cấp hoặc giữ cho xung đột ấy ở 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong vòng một “trật tự” nhất định để xã hội có thể tồn tại và phát triển được. Bằng quyền lực của nhà nước có thể thực hiện và bảo vệ được quyền lợi và địa vị thống trị của giai cấp thống trị, có thể tổ chức và quản lý xã hội nhằm củng cố, bảo vệ trật tự và sự ổn định của xã hội, định hướng cho sự phát triển của xã hội. Trong các mô hình nhà nước dân chủ, hoặc tuyên bố là nhà nước dân chủ trong điều khoản đầu tiên của các hiến pháp đều thừa nhận nguyên tắc phổ quát: quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, do nhân dân ủy quyền. Vì vậy về mặt pháp lý nó nhân danh quyền lực của nhân dân và để thực hiện lợi ích của toàn xã hội.
Trên thực tế điều đó không làm mất đi tính giai cấp của quyền lực nhà nước, mà ở đây cần thấy rõ quyền lực của giai cấp thống trị là yếu tố cốt lõi của cấu trúc quyền lực nhà nước, bên cạnh quyền lực công cộng của xã hội. Nói cách khác, về bản chất nó trước hết vì lợi ích của một giai cấp hay một liên minh giai cấp nhất định. Tuy nhiên nhà nước còn thể hiện lợi ích chung của xã hội, của các giai cấp tầng lớp cư dân khác. Điều này có thể thấy ở việc nhà nước thực hiện chức năng trọng tài có vẻ như độc lập về những mâu thuẫn, xung đột, cạnh tranh giữa các lực lượng, giữa các giai cấp và ở việc nhà nước nhân danh toàn xã hội để thực hiện những hoạt động nhằm bảo vệ công lý, bảo đảm trật tự an toàn và ổn định xã hội, bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng.
Quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan, các thiết chế của nó. Vì vậy tìm kiếm mô hình thực thi quyền lực và giảm thiểu những rủi ro với xã hội từ đó là một trong những trọng tâm suy tư lý thuyết và hiện thực chính trị. Một trong số những vấn đề như thế chính là vấn đề các hình thức tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực nhà nước. Trong lịch sử tư tưởng chính trị chủ đề trên có khi được thể hiện bằng những thuật ngữ, phạm trù, hoặc nói đơn giản là những tên gọi khác nhau.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chẳng hạn trong học thuyết của mình Platon (427 - 374 tr.CN) gọi đó là những hình thức chính trị; còn Aristote (384 - 322 tr.CN) gọi là hình thức chính phủ; Bertrand Russell gọi là hình thức chính quyền,. Các nhà nước có hình thức chính thể khác nhau, cách thức thực hiện quyền lực nhà nước cũng có những khác biệt. Cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong thực tế rất đa dạng và phong phú. Song tựu trung lại có thể khái quát thành hai mô hình cơ bản: tập quyền và phân quyền.
Với mô hình tập quyền mọi quyền lực của nhà nước tập trung trong tay một cá nhân hoặc một nhóm chi phối và tạo lập hệ thống thể chế theo hình chóp. Với mô hình phân quyền có nghĩa là quyền lực nhà nước được phân tách thành các loại lập pháp, hành pháp, tư pháp và thuộc về các cơ quan nhà nước khác nhau, cơ quan này thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan kia thực hiện quyền lực hành pháp và quyền lực tư pháp thì được trao cho cơ quan thứ ba. Trong mô hình phân quyền ba cấu trúc quyền lực nêu trên được thiết lập theo nguyên tắc vừa độc lập về phạm vi quyền hạn, trách nhiệm; vừa phụ thuộc và kiểm soát lẫn nhau. Tất nhiên các cơ chế để thực hiện chúng là rất phức tạp.
Từ thực tế lịch sử tư tưởng và lịch sử chính trị có thế thấy tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước đã xuất hiện từ rất sớm và cho đến nay nó vẫn là bài toán cần phải giải cùng với quá trình phát triển của nhà nước, với sự phát triển xã hội. Trong đó có một số mục tiêu có thể coi là căn bản dù đó là ở thời kỳ cổ đại hay hiện đại: ngăn chặn xu hướng độc tài chuyên chế, bảo vệ các quyền của công dân, và quan trọng không kém đó là hướng đến xây dựng một nhà nước hiệu quả, có trách nhiệm đối với tương lai, với hạnh phúc của toàn thể xã hội. Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phương Tây quan niệm tam quyền phân lập đã được đề cập không ít. Nhưng ở Việt Nam chủ đề này cùng với vấn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đề nhà nước pháp quyền chủ yếu được đề cập đến nhiều hơn từ khi bắt đầu thời kỳ đổi mới trở lại đây.
Trong sách báo pháp lý nước ta tư tưởng này được đề cập đến với các tên gọi như: thuyết “tam quyền phân lập”, thuyết “phân quyền”, thuyết “phân chia quyền lực”, “học thuyết phân chia quyền lực”, “nguyên tắc phân chia quyền lực”, “nguyên tắc tam quyền phân lập”, “nguyên tắc phân quyền”. Dù phức tạp về tên gọi, tuy nhiên hiện nay chúng được chấp nhận với tên gọi phổ biến là “nguyên tắc tam quyền phân lập”, “nguyên tắc phân quyền” [36, tr. Trong một số tác phẩm dịch từ tiếng nước ngoài như: “những vấn đề căn bản của chính trị” của Leslie Lipson, “Những cách diễn giải hiện nay về thuyết phân quyền ở phương Tây” của Marsenco, tư tưởng này được đề cập đến với các tên gọi như “học thuyết phân quyền”. Song về lịch sử khái niệm có thể thấy thuật ngữ như “lý thuyết tam quyền phân lập”, “lý thuyết phân quyền” có vẻ mới được sử dụng phổ biến hơn từ cuối thời cận đại đến nay.
Có thể chứng minh nhận định trên từ chính tác phẩm của những tác giả như Aristote, Locke, Montesquieu: các ông chưa sử dụng thuật ngữ trên trong các tác phẩm của mình. Chẳng hạn, Aristote cho rằng: có ba bộ phận trong tất cả các nhà nước, đó là Hội nghị nhân dân (The Public Assembly), các viên chức nhà nước (The officers of the state) và cơ quan Tòa án (The judicial Department). Sau đó ông trình bày về ba bộ phận này và đề cập một cách rất sơ lược về mối quan hệ giữa ba bộ phận đó mà không hề nhắc đến từ “phân quyền” hay “phân chia quyền lực”. Montesquieu cũng vậy, ông viết: “Trong mỗi chính quyền đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền thực hiện những việc dựa vào luật quốc tế và quyền thực hiện nhưng việc dựa vào luật dân sự.
Chúng ta sẽ gọi quyền lực sau cùng là quyền tư pháp và quyền kia một cách giản dị là quyền hành pháp của nhà nước” [5, tr. Sau đó, ông đề cập đến nội dung cụ thể của từng loại quyền lực, vị trí và mối quan hệ giữa các quyền lực ấy. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vây, thuyết “tam quyền phân lập” hay còn gọi là thuyết phân quyền là tư tưởng về nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thứ nhất: Quyền lập pháp và cơ quan lập pháp.
Theo thuyết “tam quyền phân lập”, quyền lập pháp là quan trọng nhất và hoàn toàn thuộc về Nghị viện (Quốc hội) - cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân uỷ quyền, được nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Lập pháp hiểu một cách đơn giản nhất tức là quyền làm luật, điều chỉnh và hủy bỏ luật. Luật pháp là ý chí của nhà nước được luật hóa. Nó về bản chất là hình thức cao nhất, có tính áp đặt và cưỡng chế đổi của quyền lực nhà nước.
Luật không những mang hiệu lực pháp lý đã được quy định, mà còn đại diện cho ý chí của dân chúng bằng việc thực thi quyền phúc quyết trực tiếp hoặc gián tiếp qua đại diện được ủy quyền dân chủ. Giới hạn, phạm vi của quyền lập pháp do hiến pháp quy định.