phần mở đầu, 03 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Một số vấn đề lý luận về thủ tục hải quan Chương II. Pháp luật về thủ tục hải quan tại Việt Nam và Công ước Kyoto sửa đổi về đơn giản và hài hòa thủ tục hải quan Chương III. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thủ tục hải quan tại Việt Nam trong quá trình thực hiện Công ước Kyoto sửa đổi.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN 1. Thủ tục hải quan và pháp luật về thủ tục hải quan 1. Khái niệm thủ tục hải quan Để có thể hiểu rõ về thủ tục hải quan, chúng ta cần xem xét sự xuất hiện của hoạt động hải quan trong lịch sử thế giới và bản chất của hải quan. Tiền đề kinh tế của việc xuất hiện các loại thuế hải quan cũng như các cơ quan thu thuế là sự phát sinh ra sản xuất hàng hoá - sản xuất ra các sản phẩm với mục đích để trao đổi.
Cùng với nền sản xuất hàng hoá đã xuất hiện thương nghiệp và sự xuất hiện của những người chỉ làm công việc trao đổi hàng hoá, đó chính là thương gia. Sự xuất hiện của tầng lớp thương gia đã tạo ra các quan hệ thương mại vượt ra khỏi phạm vi của các địa bàn gần nhất mà việc thực hiện nó phụ thuộc vào các phương tiện giao thông hiện có, vào tình trạng an toàn xã hội và vào các nhu cầu ít hay nhiều tuỳ thuộc vào mức độ phát triển tại các vùng mà các quan hệ đó có thể tới được. Thương mại dần vượt ra khỏi giới hạn một vùng, quốc gia, châu lục. Việc di chuyển của các thương đoàn thường là không an toàn, do vậy duy trì một đội ngũ bảo vệ khá tốn kém đối với thương nhân là một gánh nặng và không phải khi nào cũng hiệu quả, vì vậy thay vào đó người ta đã chi một loại thuế đặc biệt - tiền thân của thuế hải quan.
Thuế hải quan phát sinh từ các khoản thu mà các lãnh chúa phong kiến thu của thương nhân đi qua lãnh địa của họ, để bằng cách đó họ được bảo đảm an toàn, thoát khỏi việc bị cướp bóc, các khoản thu này về sau cũng được thu bởi các thành phố và khi xuất hiện các nhà nước hiện đại thì chúng trở thành phương tiện thuận tiện nhất để thu tiền cho ngân khố. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các điều kiện chính trị của việc xuất hiện chính sách hải quan là xã hội phân chia thành các giai cấp và hình thành các quốc gia độc lập. Bên cạnh thuế và các khoản thu khác, thuế hải quan đóng góp quan trọng vào việc củng cố địa vị thống trị giai cấp bóc lột từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội tư bản, do mục đích chính của các loại thuế này là vấn đề tài chính, tức là tiền thu về cho ngân khố. Có thể nói hoạt động hải quan ban đầu phát triển nhất ở Hy Lạp cổ đại một phần do đặc điểm của đất nước này không có nhiều đất đai màu mỡ, hơn nữa lại bị bao bọc bởi biển cả nên đa số dân chúng sống nhờ vào buôn bán.
Từ đầu thế kỷ VI trước công nguyên, người Aten đã nhập lúa mỳ từ Ai Cập, Xixil và sau đó là vùng Hắc Hải. Ngay từ thời đó, Hy Lạp cổ đại đã áp dụng chính sách ưu đãi thuế quan đối với các thuộc địa của mình ở ven bờ Hắc Hải, tại đây suốt một thời kỳ dài không đánh thuế xuất nhập khẩu đối với hàng hoá xuất đi hoặc nhập về từ Hy Lạp. Hoạt động hải quan cũng diễn ra sôi động ở nhiều nước khác. Ở Ai Cập cổ đại thế kỷ IV trước công nguyên, chính quyền quy định nghiêm ngặt việc chở lương thực đến Alecsandria và xuất đi các sản phẩm của các thợ thủ công Ai Cập.
Việc làm thủ tục hải quan và thu thuế hải quan được tiến hành tại các trạm hải quan ở Alecsandria, Peluxi… thậm chí có cả một trạm hải quan ở trong nội địa tại Hermopol. Việc các quốc gia Châu Âu và Châu Á chuyển từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến diễn ra trong một quá trình lâu dài, không giống nhau và không đồng thời nên quá trình phát triển chính sách thuế quan vào thời kỳ trung cổ cũng rất phức tạp và mâu thuẫn. Mặc dù vẫn là một phương tiện quan trọng để tăng thu cho ngân khố, thuế hải quan đã trở thành một công cụ mềm dẻo để điều chỉnh thương mại. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật lệ hải quan thời kỳ này phản ánh xu hướng chính quyền các thành phố trung cổ ngày càng tìm cách dùng biện pháp thuế quan để ngăn chặn sự tràn ngập của hàng hoá nước ngoài.
Quy chế thành phố Parma năm 1211 quy định tất cả đồ len dạ, vải vóc chở vào thành phố sẽ bị tịch thu và đốt hết. Xu hướng mở rộng các quan hệ kinh tế giữa các thành phố và các quốc gia bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XII và XIII. Trong chính sách thuế quan củng cố xu hướng tạo ra một hệ thống thuế quan chung trên biên giới phía ngoài của quốc gia. Tuy nhiên, quá trình thống nhất hoá luật lệ hải quan ở các quốc gia diễn ra trong một thời gian khá dài.
Trong thời kỳ này các quốc gia can thiệp rất tích cực vào ngoại thương, đặt ra các luật lệ thúc đẩy việc tích luỹ tiền tệ cho ngân khố. Hàng hoá chỉ được đi qua một điểm nhất định. Theo quy chế Henry thế kỷ XV ở nước Anh, các nhân viên hải quan phải theo dõi nghiêm ngặt để không cho người nước ngoài mang tiền ra khỏi lãnh thổ. Nói chung, luật lệ hải quan thời kỳ này hầu như chỉ mang tính chất tài chính và thuế được đánh cả vào hàng nhập cũng như hàng xuất.
Ở nước Pháp, luật thuế quan năm 1664 gồm 700 điều quy định đối với việc nhập khẩu hàng hoá và 900 điều đối với việc xuất khẩu hàng cho thấy luật lệ hải quan thời kỳ này được quy định rất chi tiết. Từ cuối thế kỷ XVII xuất hiện chủ nghĩa bảo hộ, nhiều đạo luật được thông qua để hạn chế việc nhập khẩu hàng hoá của các nước khác và khuyến khích việc xuất hàng hoá nội địa. Năm 1650 nước Anh ban hành luật cấm người nước ngoài buôn bán tại các thuộc địa của Anh nếu không được Chính phủ Anh cho phép [43, tr. Quá trình hình thành, phát triển của hoạt động hải quan trên thế giới, có thể thấy lịch sử hình thành của hoạt động hải quan gắn liền với việc thực hiện thủ tục hải quan để kiểm tra, kiểm soát hàng hoá được đưa ra hay đưa vào lãnh thổ quốc gia và chính sách hải quan của các nhà nước, vùng lãnh thổ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được đặt ra rất sớm nhằm phục vụ yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia, cộng đồng.
Đến nay, bên cạnh các chức năng truyền thống trong việc tiến hành thủ tục hải quan như kiểm tra hàng hoá, thu thuế, cơ quan hải quan các nước nói chung còn thực hiện nhiệm vụ khác như kiểm soát phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới, chống khủng bố, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo đảm tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh, môi trường… Theo pháp luật Việt Nam thì thủ tục hải quan bao gồm tất cả các công việc cần thực hiện để thông quan cho hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh. Theo đó, thủ tục hải quan bao gồm: khai hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thu thuế và quản lý thuế. Mặc dù khoản 6 Điều 4 Luật Hải quan năm 2001 quy định chưa thật cụ thể: “Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hoá, phương tiện vận tải” [4, tr.35] nhưng Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009 của Bộ Tài chính thì đã hướng dẫn bao quát các vấn đề về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về thủ tục hải quan: Thủ tục hải quan là công việc mà người khai hải quan (chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải hoặc người được chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải uỷ quyền) và công chức hải quan thực hiện theo quy định của pháp luật đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc trƣng của pháp luật về thủ tục hải quan Như trên đã phân tích, thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật hải quan đối với hàng hoá, phương tiện vận tải. Do đó, pháp luật về thủ tục hải quan điều chỉnh tất cả các hoạt động của cơ quan hải quan và bên có liên quan bao gồm người khai hải quan, người vận chuyển hàng hóa, đại lý làm thủ tục hải quan…thực hiện trong quá trình làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Pháp luật về thủ tục hải quan bao gồm các nhóm chính: - Quy định về khai hải quan bao gồm các quy định về thời điểm, địa điểm đăng ký hồ sơ hải quan, các giấy tờ thuộc bộ hồ sơ hải quan, hiệu lực của tờ khai hải quan và các quy định khác tuỳ thuộc vào sự phát triển của pháp luật hải quan như sử dụng tờ khai tạm (tờ lược khai), đăng ký tờ khai hải quan một lần… - Quy định về kiểm tra hải quan bao gồm các quy định về cách thức kiểm tra hồ sơ hải quan, trách nhiệm của người khai hải quan trong việc xuất trình hàng hoá để tiến hành kiểm tra thực tế và các quy định về kiểm tra thực tế hàng hoá như tỷ lệ kiểm tra thực tế, kiểm tra tên hàng, mã số hàng hoá, kiểm tra về lượng hàng hoá, kiểm tra về chất lượng hàng hoá, việc lưu mẫu hàng hoá.
- Quy định về giám sát hải quan bao gồm các quy định về đối tượng chịu sự giám sát hải quan và phương thức giám sát hải quan.