Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm chung về thẩm quyền xét xử về hình sự của Toà án Trong lịch sử xã hội loài người có nhiều hình thức Nhà nước khác nhau, ứng với mỗi hình thức Nhà nước là cách thức thực hiện quyền lực Nhà nước đó. Trong Nhà nước phong kiến quyền lực tuyệt đối thuộc về nhà vua: lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Chính vì thế luôn có sự lạm quyền và tuỳ tiện trong quản lý và điều hành xã hội. Các Mác đã nói: “sự tuỳ tiện là quyền lực của nhà vua”. Nhà nước tư sản ra đời gắn với học thuyết “tam quyền phân lập” của Mông tetxkiơ. Theo học thuyết này, thì quyền lực nhà nước được chia thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Các nhánh quyền lực này kiềm chế và đối trọng lẫn nhau. Học thuyết này đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước tư sản, một đóng góp quan trọng cho nền dân chủ tư sản. Theo đó quyền tư pháp là quyền duy nhất thuộc về Toà án để Toà án đứng trên giai cấp giữ vai trò trọng tài điều hoà các mâu thuẫn trong xã hội. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin khi xây dựng học thuyết của mình về nhà nước kiểu mới đã đưa ra quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân.
Nhân dân trao quyền lực cho cơ quan đại diện nhưng không có nghĩa là làm tất cả các chức năng của nhà nước, mà bên cạnh cơ quan quyền lực nhà nước còn có các cơ quan khác mỗi cơ quan có thẩm quyền hoạt động trong một lĩnh vực nhất định. Toàn bộ hoạt động của các cơ quan đó đều để thực hiện chu trình quản lý nhà nước, trong đó cơ quan quyền lực (Quốc hội) có thẩm quyền thực hiện chức năng lập pháp và giám sát tối cao, còn các cơ quan khác (Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát) thực hiện chức năng hành pháp và tư pháp. Chức năng tư pháp là hình thức thực hiện quyền lực nhà nước được hiểu là hoạt động xét xử của các Toà án và những hoạt động của cơ quan nhà nước khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử như: điều tra, truy tố, thi hành án và bổ trợ tư pháp. Mỗi cơ quan nhà nước có những nhiệm vụ khác nhau, hoạt động trong phạm vi quy định thể hiện sự phân công trong hoạt động quản lý để tạo điều kiện cho các cơ quan kiểm tra, giám sát lẫn nhau bảo đảm sự hoạt động của bộ máy nhà nước.
Phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà nước do pháp luật quy định được hiểu là thẩm quyền của các cơ quan nhà nước đó. Trong từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thuộc Viện Khoa học Việt Nam xuất bản năm 1992 thì “thẩm quyền” được hiểu là: quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật. Như vậy, ta có thể hiểu thẩm quyền là quyền của một chủ thể nhất định, đó là khả năng mà pháp luật cho phép được thực hiện một công việc trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định. Mỗi cơ quan khi được thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình đều hoạt động trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định với những quyền năng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà pháp luật cho phép.
Việc này được gọi là thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó. Sự phân định thẩm quyền là một điều kiện cần thiết bảo đảm cho hoạt động của bộ máy Nhà nước đồng bộ, nhịp nhàng không trùng lắp, chồng chéo nhau để đạt được hiệu quả cao nhất. Bộ máy Nhà nước Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công rành mạch giữa ba quyền: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ở nước ta quyền tư pháp theo nghĩa rộng bao gồm: điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và bổ trợ tư pháp được giao cho các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Thi hành án …thực hiện.
Trung tâm là Toà án – nơi tập trung nhất của quyền tư pháp – kết quả của hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa … được kiểm tra, xem xét một cách công khai thông qua thủ tục tố tụng do luật định để đưa ra những phán quyết mang tính quyền lực Nhà nước, nơi phản ánh đầy đủ và sâu sắc nhất nền công lý của xã hội ta. Toà án là cơ quan có chức năng xét xử để bảo vệ pháp luật, bảo đảm lẽ phải và công bằng xã hội. Vì thế, theo nghĩa hẹp quyền tư pháp có thể được hiểu là quyền xét xử của Toà án. Thực hiện chức năng đặc thù của mình Toà án có thẩm quyền xét xử các vụ án và chỉ có Toà án mới được xét xử.
Theo quy định của Điều 127 Hiến pháp năm 1992 và Điều 1 Luật TCTAND năm 1992 thì TANDTC, các TAND địa phương, các TAQS và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam. Khi xét xử Toà án nhân danh Nhà nước để ra bản án giải quyết vụ án. Như vậy, hoạt động xét xử phản ánh trực tiếp và sâu sắc bản chất Nhà nước. Sai lầm trong việc giải quyết vụ án của Toà án chính là sai lầm của Nhà nước.
Vì lẽ đó xét xử phải đòi hỏi tính chính xác, công minh, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân (1). Việc xét xử của Toà án nói chung và của TAND cấp huyện nói riêng, hoàn toàn khác với biện pháp xử lý của các cơ quan hành chính. Sự khác biệt cơ bản thể hiện ở chỗ hoạt động xét xử được áp dụng những chế tài, kể cả hình phạt. Tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992 quy định: “không ai có thể bị coi 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.
Việc xử lý của các cơ quan hành chính Nhà nước được tiến hành theo các thủ tục hành chính đơn giản, gọn nhẹ hơn trong khi đó việc xét xử của Toà án được tiến hành theo những thủ tục chặt chẽ được quy định trong pháp luật tố tụng như luật tố tụng hình sự. Vì vậy, hiệu lực các phán quyết của Toà án cũng cao hơn các biện pháp xử lý hành chính. (1) Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền xét xử của TAQS các cấp - Đề tài cấp Bộ - TANDTC - 2002 Để bảo đảm cho Toà án thực hiện tốt việc xét xử, Nhà nước trao cho Toà án nhiều quyền năng pháp lý. Đó là khả năng pháp luật cho phép Toà án được thực hiện, theo đó giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.
Trong lĩnh vực hình sự quy định về thẩm quyền xét xử của Toà án ở mỗi quốc gia cũng khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố như hệ thống pháp luật nói chung, luật hình sự nói riêng, bộ máy tổ chức các cơ quan tư pháp, đội ngũ thẩm phán, các điều kiện kinh tế xã hội… Trong cuốn từ điển pháp luật của Pháp thì Leneunier cho rằng thẩm quyền xét xử được hiểu là khả năng của một Toà án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép. Ở một số nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa và hệ thống luật án lệ thì Toà án được tổ chức theo cấp xét xử: Toà án sơ thẩm, Toà án phúc thẩm và Toà án tối cao tương ứng với các cấp xét xử. Luật quy định thẩm quyền xét xử: Toà án sơ thẩm xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án; Toà án phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm khi vụ án bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị; Toà án tối cao xét xử giám đốc thẩm. Ở nước ta các Toà án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ: Các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là TAND cấp huyện), TAQS cấp khu vực chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm; còn các TAND cấp tỉnh, TAQS cấp Quân khu 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và TAND tối cao vừa có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vừa có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc và tái thẩm.
Từ đó thấy rằng sự quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm khác nhau nhưng đều dựa vào một số dấu hiệu của vụ án để phân định thẩm quyền xét xử. Có thể tổng hợp dấu hiệu đó thành những nhóm sau: - Nhóm thứ nhất là những dấu hiệu thể hiện tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm. Những dấu hiệu này được đánh giá cả từ góc độ luật hình sự và luật TTHS. Theo đó thì tội phạm càng nghiêm trọng, phức tạp càng đòi hỏi cấp Toà án và người xét xử có năng lực hơn.
Phân định thẩm quyền theo nhóm dấu hiệu này gọi là thẩm quyền xét xử theo việc để phân biệt thẩm quyền của TAND cấp huyện với TAND cấp tỉnh, giữa TAQS khu vực với TAQS Quân khu. - Nhóm thứ hai là dấu hiệu về không gian liên quan đến việc thực hiện tội phạm: Địa điểm thực hiện tội phạm, địa điểm kết thúc điều tra… Theo sự phân định này gọi là thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ để phân biệt thẩm quyền xét xử của các Toà án cùng cấp. Ở trường hợp có bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử tại Việt Nam thì theo nhóm dấu hiệu này cũng là căn cứ để phân biệt thẩm quyền xét xử của TAND các cấp. - Nhóm thứ ba là những dấu hiệu liên quan đến người phạm tội.
Sự phân định thẩm quyền theo nhóm dấu hiệu này gọi là thẩm quyền xét xử theo đối tượng. Để xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của một Toà án nói chung bắt buộc phải xác định đồng thời cả ba nhóm dấu hiệu trên. Khi xem xét kỹ từng nhóm dấu hiệu mới có thể xác định thẩm quyền xét xử được chính xác. Chỉ bỏ sót một nhóm dấu hiệu không được xem xét thì có thể dẫn đến xét xử sai thẩm quyền, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.
Ngoài ra, để xác định thẩm quyền xét xử của một Toà án theo các cấp xét xử khác như xét xử phúc 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.