Luận văn: Hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ trong BCTC - Ngô Thu Hoài

Nghiên cứu chi tiết quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn TAC thực hiện. Luận văn

Trường đại học

Học viện Tài chính

Chuyên ngành

Kiểm toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

155
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quy trình kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán khoản mục tài sản cố định (TSCĐ) là một phần quan trọng trong kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC). TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính. Quy trình kiểm toán TSCĐ bao gồm ba giai đoạn chính: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và tổng hợp kết quả. Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên (KTV) cần tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và phân tích rủi ro. Giai đoạn thực hiện bao gồm thu thập bằng chứng kiểm toán thông qua các thủ tục như kiểm tra chứng từ, quan sát tài sản thực tế, đối chiếu số liệu. Cuối cùng, KTV tổng hợp kết quả và đưa ra ý kiến về tính trung thực, hợp lý của khoản mục TSCĐ trong BCTC. Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn TAC là đơn vị thực hiện quy trình kiểm toán này, đòi hỏi sự chuyên nghiệp và tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam.

1.1. Khái niệm và vai trò của tài sản cố định trong doanh nghiệp

Tài sản cố định là những tư liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng trên một năm và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. TSCĐ bao gồm TSCĐ hữu hình (nhà cửa, máy móc, phương tiện vận tải), TSCĐ vô hình (bản quyền, giấy phép) và TSCĐ thuê tài chính. Vai trò của TSCĐ rất quan trọng đối với doanh nghiệp vì chúng tạo ra năng lực sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh và là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động. Việc quản lý và kiểm toán TSCĐ đúng cách giúp đảm bảo tính chính xác của số liệu trên BCTC.

1.2. Mục tiêu và căn cứ kiểm toán khoản mục tài sản cố định

Mục tiêu kiểm toán TSCĐ nhằm xác minh tính tồn tại, quyền sở hữu, giá trị ghi sổ và tính đầy đủ của khoản mục này trên BCTC. KTV cần kiểm tra xem TSCĐ có thực sự tồn tại, thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, được ghi nhận đúng giá trị và đã được phân loại phù hợp. Căn cứ kiểm toán bao gồm: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, các quy định về chế độ kế toán, luật thuế và các văn bản pháp luật liên quan. Ngoài ra, KTV còn căn cứ vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán để đánh giá rủi ro và thiết kế thủ tục kiểm toán phù hợp.

II. Phân tích thực trạng quy trình kiểm toán tài sản cố định tại công ty TAC

Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn TAC được thành lập và phát triển trong lĩnh vực kiểm toán, tư vấn tài chính. Quá trình thực hiện kiểm toán TSCĐ tại TAC tuân theo quy trình chuẩn nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế. Trong giai đoạn lập kế hoạch, việc thu thập thông tin về khách hàng đôi khi chưa đầy đủ, dẫn đến đánh giá rủi ro chưa chính xác. Ở giai đoạn thực hiện, một số KTV chưa chú trọng đúng mức đến việc kiểm tra thực tế TSCĐ tại hiện trường, chủ yếu dựa vào hồ sơ chứng từ. Việc đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán còn mang tính chủ quan. Hệ thống tài liệu làm việc chưa được chuẩn hóa hoàn toàn, gây khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng. Các sai sót thường gặp liên quan đến việc xác định giá trị TSCĐ, tính khấu hao và ghi nhận TSCĐ tăng giảm trong kỳ.

2.1. Các sai sót thường gặp khi kiểm toán khoản mục tài sản cố định

Khi kiểm toán TSCĐ, KTV thường gặp các sai sót phổ biến sau: xác định sai thời điểm ghi nhận TSCĐ tăng, tính toán khấu hao không chính xác về thời gian sử dụng hoặc phương pháp khấu hao, không ghi nhận đầy đủ TSCĐ giảm do thanh lý, nhượng bán hoặc mất mát. Một số trường hợp, doanh nghiệp không trích lập đầy đủ dự phòng giảm giá TSCĐ hoặc ghi nhận giá trị không đúng theo nguyên giá. Việc phân loại sai giữa chi phí sửa chữa lớn và chi phí thường xuyên cũng là sai sót phổ biến ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán.

2.2. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến tài sản cố định

Hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đối với TSCĐ tại công ty TAC cần được đánh giá toàn diện. KTV cần kiểm tra quy trình mua sắm, ghi nhận, theo dõi và thanh lý TSCĐ. Các điểm kiểm soát quan trọng bao gồm: thủ tục phê duyệt mua sắm, hệ thống thẻ tài sản, quy trình kiểm kê định kỳ và quy trình ghi nhận khấu hao. Đánh giá KSNB giúp KTV xác định mức độ tin cậy vào hệ thống kế toán, từ đó thiết kế thủ tục kiểm toán phù hợp. Nếu KSNB hoạt động hiệu quả, KTV có thể giảm bớt các thủ tục kiểm toán chi tiết.

III. Giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán tài sản cố định tại công ty TAC

Để hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn TAC, cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình lập kế hoạch kiểm toán với mẫu biểu thống nhất, yêu cầu KTV thu thập đầy đủ thông tin về khách hàng và đánh giá rủi ro chi tiết. Thứ hai, tăng cường đào tạo chuyên môn cho đội ngũ KTV về kỹ năng kiểm toán TSCĐ, cập nhật các quy định mới về kế toán và thuế. Thứ ba, xây dựng hệ thống tài liệu mẫu (working papers) chuẩn hóa để đảm bảo tính nhất quán và dễ kiểm soát chất lượng. Thứ tư, áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình kiểm toán như sử dụng phần mềm kế toán, cơ sở dữ liệu để tăng hiệu quả làm việc. Cuối cùng, thiết lập quy trình soát xét nội bộ chặt chẽ trước khi phát hành báo cáo kiểm toán.

3.1. Hoàn thiện giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tài sản cố định

Việc hoàn thiện giai đoạn lập kế hoạch đòi hỏi TAC xây dựng bộ câu hỏi tìm hiểu doanh nghiệp chi tiết hơn, đặc biệt tập trung vào chính sách quản lý TSCĐ. KTV cần thực hiện phân tích sơ bộ kỹ lưỡng hơn bằng cách so sánh các chỉ tiêu liên quan TSCĐ giữa các kỳ, đối chiếu với ngành và phát hiện biến động bất thường. Đánh giá rủi ro cần được thực hiện có hệ thống hơn, kết hợp giữa rủi ro固有 và rủi ro kiểm soát. Chương trình kiểm toán chi tiết nên được thiết kế linh hoạt tùy theo mức độ rủi ro đánh giá được.

3.2. Nâng cao chất lượng thực hiện kiểm toán và soát xét kết quả

Trong giai đoạn thực hiện, KTV cần tăng cường các thủ tục kiểm tra thực tế tại hiện trường như kiểm kê vật chất TSCĐ, quan sát tình trạng sử dụng thực tế. Việc thu thập bằng chứng kiểm toán cần đa dạng hóa: kết hợp giữa bằng chứng bên trong và bên ngoài, bằng chứng văn bản và bằng chứng trực tiếp. Giai đoạn tổng hợp kết quả cần được soát xét bởi KTV có kinh nghiệm, đảm bảo các bút toán điều chỉnh được ghi nhận đầy đủ. Ý kiến kiểm toán cần phản ánh chính xác kết quả kiểm toán và các hạn chế phát sinh.

IV. Kết luận và ứng dụng quy trình kiểm toán tài sản cố định hoàn thiện

Quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng kiểm toán BCTC. Thông qua nghiên cứu thực trạng tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn TAC, luận văn đã chỉ ra các tồn tại và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Các giải pháp bao gồm chuẩn hóa quy trình lập kế hoạch, nâng cao năng lực KTV, áp dụng công nghệ thông tin và tăng cường soát xét nội bộ. Việc áp dụng quy trình hoàn thiện sẽ giúp TAC nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán, giảm thiểu rủi ro và tăng uy tín với khách hàng. Quy trình này có thể áp dụng cho các doanh nghiệp kiểm toán khác có đặc điểm tương tự. Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển, yêu cầu về kiểm toán chất lượng cao ngày càng cấp thiết, đòi hỏi các công ty kiểm toán không ngừng cải tiến quy trình làm việc.

4.1. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao đối với Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn TAC và các công ty kiểm toán tương tự. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để TAC cải tiến quy trình kiểm toán TSCĐ, nâng cao hiệu quả hoạt động. Đối với đội ngũ KTV, các giải pháp đề xuất giúp chuẩn hóa cách thức làm việc, giảm thiểu sai sót và nâng cao kỹ năng chuyên môn. Đối với khách hàng kiểm toán, quy trình hoàn thiện đảm bảo BCTC được kiểm toán chất lượng cao, tăng độ tin cậy cho các bên sử dụng thông tin tài chính.

4.2. Hạn chế và hướng phát triển của đề tài

Đề tài còn một số hạn chế như phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào một công ty kiểm toán, chưa so sánh rộng rãi với các đơn vị khác. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu định tính, chưa có phân tích định lượng về hiệu quả của các giải pháp đề xuất. Hướng phát triển trong tương lai có thể mở rộng nghiên cứu sang nhiều công ty kiểm toán hơn, áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp và đánh giá tác động của công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn đến quy trình kiểm toán TSCĐ. Ngoài ra, cần nghiên cứu cập nhật các thay đổi về chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty tnhh kiểm toán và tư vấn tac thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành kiểm toán

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN 1.1 Khái quát chung về khoản mục tài sản cố định trong báo cáo tài chính 1.1 Khái niệm tài sản cố định Tài sản cố định là một trong những tư liệu sản xuất quan trọng của doanh nghiệp, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, dùng được vào nhiều chu kì sản xuất. Trong quá trình sử dụng TSCĐ bị hao mòn dần đồng thời giá trị của nó được chuyển dịch từng phần vào giá trị các sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dưới hình thức khấu hao TSCĐ tại doanh nghiệp. Khi tham gia vào các chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu cho đến khi hư hỏng phải loại bỏ. Theo thông tư 45/2013/TT-BTC, quy định về tiêu chuẩn và nhận biết TSCĐ như sau: + Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhờ việc sử dụng tài sản đó; + Thời gian sử dụng trên 1 năm hoặc chu kì sản xuất kinh doanh thông thường ( nếu chu kì sản xuất lớn hơn 1 năm ) + Nguyên giá của tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy và có giá trị từ 30.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên; Tài sản cố định được phân loại theo nhiều cách như phân loại theo quyền sở hữu, theo hình thái biểu hiện, theo đặc trưng kỹ thuật,.

Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) dựa vào cách phân loại theo hình thái biểu hiện chia TSCĐ thành 3 loại: ✓ Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp SV: Ngô Thu Hoài 5 Lớp: CQ55/22.01 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Thị Hương với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH. ✓ Tài sản cố định vô hình: là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng cho sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐVH. ✓ Thuê tài chính: là thuê tài sản mà bên cho thuê có quyền chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê.

Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê.2 Vai trò của TSCĐ trong doanh nghiệp TSCĐ đóng vai trò quan trọng phản ánh năng lực hiện có, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật, quyết định đến khả năng phát triển bền vững, khả năng thực hiện các mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Mặt khác, TSCĐ cho thấy mặt bằng cơ sở hạ tầng của đơn vị, phản ánh quy mô doanh nghiệp có tương xứng với đặc điểm loại hình kinh doanh đơn vị đang tiến hành hay không. TSCĐ luôn mang tính quyết định đối với quá trình sản xuất hàng hóa của đơn vị. Nhờ đặc điểm luân chuyển của TSCĐ qua mỗi chu kỳ sản xuất, TSCĐ tồn tại trong thời gian dài, tạo ra tính ổn định trong chu kỳ kinh doanh cả về sản lượng và chất lượng.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu tiêu dùng nâng cao đi đôi với đó là sự cạnh tranh khốc liệt đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải gồng mình cố gắng tăng năng suất lao động nhằm tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, nhưng giá thành phải tối ưu nhất để chiếm lĩnh thị trường. Với việc đánh giá thấp , đầu tư sai về TSCĐ sẽ mang lại những khó khăn sau cho doanh nghiệp: ▪ TSCĐ có thể không đủ tối tân để cạnh tranh với các đối thủ khác trong cùng lĩnh vực về cả mặt chất lượng lẫn giá thành. Kết quả xấu nhất là lâu dần doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm lỗi thời, bị đào thải khỏi thị trường, nguy cơ dẫn tới phá sản nếu không đủ vòng vốn để tiếp tục cải tiến sản phẩm mới. SV: Ngô Thu Hoài 6 Lớp: CQ55/22.01 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.

Đặng Thị Hương ▪ Khả năng sản xuất nếu không được cải thiện sẽ khiến doanh nghiệp đánh mất một phần thị trường vào tay đối thủ cạnh tranh. Khi điều đó xảy ra, Doanh nghiệp sẽ mất uy tín và muốn giành lại thị trường khách hàng cũ sẽ tốn một khoản chi phí lớn cũng như thời gian thực hiện lâu dài. Một chức năng hữu hiệu khác của TSCĐ đó là TSCĐ còn là một công cụ huy động vốn hiệu quả: - Với Ngân hàng TSCĐ đóng vai trò là vật thế chấp cho các khoản vay. Dựa trên giá trị của TSCĐ mang đi thế chấp, Ngân hàng mới quyết định cho vay hay không và nếu có thì số lượng là bao nhiêu.

- Với Công ty Cổ phần, quy mô của công ty phụ thuộc vào gía trị TSCĐ đang nắm giữ. Mức độ tin cậy của các nhà đầu tư khi tiến hành thu mua trái phiếu hoặc cổ phiếu do công ty phát hành phụ thuộc khá lớn vào lượng tài sản đơn vị hiện có và hàm lượng công nghệ có trong TSCĐ của Công ty.3 Đặc điểm của khoản mục TSCĐ ảnh hưởng đến công tác kiểm toán BCTC Đặc điểm chủ yếu và cơ bản của TSCĐ chi phối đến công tác kiểm toán là TSCĐ thường có giá trị lớn, quy trình mua sắm và trang bị trong các doanh nghiệp thường không nhiều và diễn ra không đều đặn. TSCĐ thường có thời gian sử dụng lâu dài, thời gian quản lý các tài sản này trong doanh nghiệp thường lớn. Trong quá trình sử dụng, doanh nghiệp phải trích khấu hao cho các tài sản này.

Việc áp dụng một chính sách khấu hao hợp lý ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ trung thực hợp lý của các thông tin liên quan đến TSCĐ trên các BCTC đặc biệt là BCĐKT. Mặt khác, trong quá trình sử dụng đơn vị có thể nâng cấp và sửa chữa, điều đó cũng có thể ảnh hưởng đến các thông tin liên quan đến TSCĐ trên các BCTC. Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng cần có TSCĐ. Như vậy có thể thấy TSCĐ đóng một vai trò cực kỳ quan trọng không thể thiếu trong các doanh nghiệp.

Trong BCTC của doanh nghiệp, rất nhiều thông tin liên quan đến TSCĐ như: các thông tin về nguyên giá, giá trị hao mòn, các khoản chi SV: Ngô Thu Hoài 7 Lớp: CQ55/22.01 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Thị Hương phí có liên quan đến TSCĐ như: chi phí phân bổ khấu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh từ đó tác động đến chỉ tiêu lợi nhuận, chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh được tổng hợp và trình bày trong BCTC hàng năm của đơn vị. Vì vậy, việc hạch toán TSCĐ cũng như việc trích lập chi phí khấu hao cần phải được ghi chép đúng đắn và chính xác. Khoản mục TSCĐ trên BCĐKT thường chiếm tỷ trọng lớn và ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu nên sai sót đối với khoản mục này thường gây ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC của doanh nghiệp.

Do đó, kiểm soát TSCĐ đóng vai trò quan trọng trong Kiểm toán BCTC.2 Khái quát về Kiểm toán Tài sản cố định trong kiểm toán Báo cáo tài chính 1.1 Mục tiêu kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Ngoài ra, kiểm toán BCTC còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Kiểm toán khoản mục TSCĐ là một bộ phận của kiểm toán BCTC, do đó, mục tiêu kiểm toán của khoản mục TSCĐ cũng hướng đến mục tiêu chung của kiểm toán BCTC là thu thập đầy đủ các bằng chứng thích hợp, từ đó đưa ra lời xác nhận về mức độ tin cậy của các thông tin tài chính có liên quan. Đồng thời cũng cung cấp tài liệu, thông tin có liên quan làm cơ sở tham chiếu khi kiểm toán các chu kì có liên quan khác.

Mục tiêu kiểm toán gồm sáu mục tiêu chung. Đối với khoản mục TSCĐ sáu mục tiêu chung được cụ thể hóa thành sáu mục tiêu đặc thù. Cụ thể đối với nghiệp vụ và số dư TSCĐ như sau: - Mục tiêu kiểm toán nghiệp vụ mua sắm, thanh lý TSCĐ theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam: SV: Ngô Thu Hoài 8 Lớp: CQ55/22.01 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Thị Hương + Sự phát sinh: Tất cả các nghiệp vụ TSCĐ được ghi sổ trong kì là phát sinh thực tế, không có các nghiệp vụ ghi khống; + Sự tính toán, đánh giá: Đảm bảo các nghiệp vụ TSCĐ được xác định theo đúng nguyên tắc và chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành và được tính toán đúng đắn không có sai sót; + Sự phân loại và hạch toán đầy đủ: Các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh trong kì đểu được phản ánh, theo dõi đầy đủ trên các sổ kế toán; + Sự phân loại và hạch toán đúng đắn: Các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh trong kì đểu được phân loại đúng đắn theo chuẩn mực, chế độ kế toán liên quan và quy định đặc thù của doanh nghiệp; các nghiệp vụ này được hạch toán đúng trình tự, và phương pháp kế toán; + Sự phân loại và hạch toán đúng kì: Các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh đều được hạch toán đúng kì phát sinh theo nguyên tắc kế toán dồn tích,.

- Mục tiêu kiểm toán số dư: + Sự hiện hữu: Tất cả các TSCĐ được trình bày trên BCTC phải tồn tại thực tế tại thời điểm báo cáo. Số liệu trên báo cáo phải khớp đúng với số liệu kiểm kê của doanh nghiệp; + Quyền và nghĩa vụ: Toàn bộ TSCĐ được báo cáo phải thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, đối với các TSCĐ thuê tài chính phải thuộc quyền kiểm soát lâu dài của doanh nghiệp trên cơ sở các hợp đồng thuê đã kí; + Sự đánh giá: Số dư các Tài khoản TSCĐ được đánh giá theo đúng các quy đinh của chế độ, chuẩn mực kế toán và các quy định cụ thể của doanh nghiệp; + Sự tính toán: Việc xác định, tính toán số dư TSCĐ là đúng đắn, không có sai sót; + Sự phân loại và hạch toán đầy đủ: Toàn bộ TSCĐ cuối kì được trình bày đầy đủ trên BCTC và không có sai sót; SV: Ngô Thu Hoài 9 Lớp: CQ55/22.01 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ