Lời mở đầu và phần Kết luận: Phần thứ nhất: Thực trạng về quy chế thu BHXH, BHYT giai đoạn vừa qua Phần thứ hai: Hoàn thiện quy chế thu BHXH Phần thứ nhất: THUC TRANG VE QUY CHE THU BHXH, BHYT GIAI DOAN VUA QUA I. THỤC TRẠNG VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC THU BHXH, BHYT GIAI ĐOẠN VỪA QUA 1. Cơ sở thu BHXH, BHYT, những quy phạm pháp luật điều chỉnh. Quan hệ về thu nộp BHXH và công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH được ràng buộc thông qua mối quan hệ 3 bên: Đối tượng (người lao động, người tham gia BHYT) - Đơn vị sử dụng lao động, đơn vị quản lý đối tượng - Cơ quan BHXH.
Các mối quan hệ đó được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật thể hiện trong hệ thống các văn bản Luật, Pháp lệnh, Nghị định và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn khác của nhà nước, cụ thể: * Về bảo hiểm xã hội. Cơ sở thu BHXH và quản lý đối tượng tham gia BHXH đã được điều chỉnh và ấn định bởi các quy phạm pháp luật xác định tại một số văn bản pháp luật như Điều 56 - Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội; Điều 140 đến Điều 152, Bộ Luật lao động được Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Ngoài ra các chế định về thu nộp, quản lý đối tượng tham gia BHXH còn được điều chỉnh bởi các văn bản Luật khác như Luật Doanh nghiệp Nhà nước; Luật Doanh nghiệp; Luật Đầu tư nước ngoài; Luật đầu tư trong nước; Pháp lệnh cán bộ công chức; Luật Hợp tác xã. Hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ về thu BHXH và quản lý đối tượng tham gia BHXH còn được thể hiện trong các văn bản dưới luật như các Nghị định, Quyết định của Chính phủ; các Thông tư, hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan. Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ và Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 9/01/2003 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 12/CP đã quy định bao hàm tương đối toàn diện về trách nhiệm và quyền lợi của các đối tượng là người lao động, cán bộ, công chức trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội; người lao động trong mọi thành phần kinh tế: Nhà nước, tập thể, tư nhân, cá thể, Hợp tác xã, tổ hợp tác, các tổ chức nước ngoài, đơn vị liên doanh, đầu tư nước ngoài, lao động có thời hạn ở nước ngoài, khu vực xã phường, khu vực ngoài công lập trong các lĩnh vực giáo dục, thể thao, y tế, thể dục, thể thao.
đều phải tham gia BHXH bắt buộc; quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động cũng như trách nhiệm của cơ quan quản lý là BHXH Việt Nam. Quyền lợi và trách nhiệm các bên tham gia BHXH là cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang bao gồm quân đội, công an và cơ yếu được điều chỉnh tại Nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 của Chính phủ. Các chế định về thu và quản lý đối tượng tham gia BHXH còn được điều chỉnh bằng các văn bản liên quan như Nghị định số 8§1/ 2003/NĐ-CP ngày 17/1/2003 của Chính phủ quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành Bộ Luật lao động về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài; Người lao động làm việc ở các cơ sở ngoài công lập trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao theo quy định tại Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/08/1999 của Chính phủ; đội viên các đội tri thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miềm núi theo Quyết định số 149/2000/QĐ-TTg ngày 28/12/2000 của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian làm nhiệm vụ đội viên tình nguyện được tham gia BHXH; Cán bộ chuyên trách, công chức xã, phường, thị trấn được tham gia BHXH theo quy định tại Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ. * Về Bảo hiểm y tế.
Cơ sở thu BHYT và quản lý đối tượng tham gia BHXH đã được điều chỉnh và ấn định bởi các quy phạm pháp luật xác định tại một số văn bản pháp luật như Điều 39, Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Pháp lệnh Quy định danh hiệu vịnh dự Nhà nước " Bà mẹ Việt Nam anh hùng"; Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; Pháp lệnh số 23/2000/PL-UBTVQHI0 ngày 28/4/2000 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về người cao tuổi. Quyền lợi, trách nhiệm các bên trong việc thu nộp BHYT, quản lý đối tượng tham gia BHYT là người lao động, người hưởng các chính sách xã hội của nhà nước, người được hưởng bảo trợ xã hội, các tầng lớp nhân dân. được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật thể hiện tại Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998 của Chính phủ trước đây ban hành Điều lệ BHYT trong đó quy định về loại hình BHYT bao gồm BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện, đối tượng tham gia BHYT, trách nhiệm và quyền lợi các bên tham gia BHYT, cơ quan quản lý quỹ khám chữa bệnh và các bên liên quan. Ngoài ra nhà nước còn có những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh chính sách chế độ về BHYT đối với từng loại đối tượng cụ thể như Quyết định số 139/2002/QD-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc khám 6 chữa bệnh cho người nghèo, Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH; nhân dân các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng xâu, vùng xa; nhân dân các dân tộc thiểu số vùng Tây nguyên theo Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng dài hạn kế hoạch 5 năm 2001-2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế xã hội vùng Tây nguyên và nhân dân các dân tộc thiểu số tại 6 tỉnh đặc biệt khó khăn của miễn núi phía bắc theo Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg ngày 7/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía bắc thời kỳ 2001-2005, trong đó nêu rõ mua thẻ BHYT cho người nghèo với mệnh giá 50.000 đồng/người/năm hoặc thực thanh, thực chỉ.
Ngoài ra còn hỗ trợ một phần viện phí cho các trường hợp khó khăn đột xuất do mắc bénh nang, chi phi cao khi điều trị ở bệnh viện nhà nước, người nghèo, lang thang cơ nhỡ. Nghị định số 63/2002/NĐ-CP ban hành Điều lệ BHYT đã điều chỉnh cơ bản, mở rộng về đối tượng, phạm vi các quyền lợi hưởng về BHYT. Thực trạng về thủ tục hành chính trong qui chế thu BHXH, BHYT được điều chỉnh bởi các quy định thuộc hệ thống các văn bản của Nhà nước. - Hệ thống các văn bản Luật và dưới luật liên quan điều chỉnh những qui định về người lao động, người sử dụng lao động trong việc thu nộp BHXH được thể hiện trong rất nhiều văn bản của nhà nước.
Các văn bản đó có những qui định chỉ điều chỉnh riêng cho từng nội dung nhưng lại liên quan đến những nội dung khác, ràng buộc lẫn nhau. Với những điều khoản chung nhất của Bộ Luật Lao động đã cho thấy, để đáp ứng được yêu cầu quản lý, thu nộp BHXH và giải quyết các chế độ về BHXH cho người lao động cần phải có những chỉ tiêu, thủ tục hành chính riêng với rất nhiều tiêu thức, bảng biểu, số sách để quản lý, theo dõi trong quá trình thu BHXH. Chẳng hạn, trong Luật lao động với qui định về HĐL2 dưới 3 tháng, sau 3 tháng nếu tiếp tục làm việc phải ký HĐLĐ mới hoặc coi HĐLĐ là không xác định thời hạn và phải tham gia BHXH bắt buộc; như vậy căn cứ thu BHXH lúc này vừa là HĐLĐ cũ dưới 3 tháng trong đó mục về BHXH đo người lao động tự lo, HĐLĐ sau lại có tham gia BHXH bắt buộc hoặc không giao kết lại HĐLĐ mới nhưng phải đóng BHXH, điều này dẫn đến sự bất hợp lý về các khoản đã ký kết của HĐLĐ trong khi đó HĐLĐ không có nội dung về BHXH nhưng lại là căn cứ để đóng và ghi số BHXH. - Trong cùng một nội dung liên quan đến căn cứ thu nộp BHXH như tiền lương, tiền công của người lao động cũng được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản của các cấp khác nhau và trải qua một thời gian dài, thay đổi liên tục.
Các qui định về tiền lương, tiền công trong các quyết định hoặc HĐLĐ làm căn cứ thu 7 nộp BHXH luôn bị biến động, ảnh hưởng đến quá trình theo dõi, thu nộp BHXH, BHYT trong nhiều trường hợp, đơn cử như sau: + Thay đổi mức tiền lương tối thiểu (khu vực trong nước, khu vực đầu tư nước ngoài, cơ quan tổ chức ngước ngoài) + Thay đổi về chính sách tiền lương. + Người lao động được điều chỉnh lương (tăng, giảm) + Các thay đổi về mức lương của từng người lao động có thời gian quay trở lại trước (có hồi tố). Từ quy định về căn cứ đóng BHXH là tiền lương, tiền công của người lao động như vậy liên quan đến quá trình quản lý, theo dõi và giải quyết khi có biến động Với những thay đổi đó đòi hỏi phải có những chỉ tiêu quản lý, theo đõi và điều chỉnh phù hợp, và điều đó dẫn đến việc phải có những qui định về hồ sơ, kê khai, lập bảng báo cáo, mở sổ theo dõi. đối với cả đơn vị sử dụng lao động và cơ quan BHXH đều phải thực hiện.
-_ Việc theo dõi thu nộp BHXH không chỉ bó hẹp trong phạm vi thu mà còn liên quan đến việc giải quyết các chế độ chính sách BHXH đòi hỏi phải được theo dõi chỉ tiết, liên tục cho cả một thời gian dài. Trong quy định về chế độ BHXH còn có nhiều điều khoản liên quan đến việc xây dựng và thực hiện các chỉ tiêu theo dõi quá trình tham gia BHXH của người lao động để giải quyết các chế độ BHXH như ốm đau (ốm đau dài ngày không phải đóng BHXH, thai sản không phải đóng BHXH nhưng vẫn được tính là thời gian tham gia BHXH), theo dõi thời gian, mức lương đóng BHXH để giải quyết chế độ hưu cho người lao động.