CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ LƯƠNG, THƯỞNG, PHÚC LỢI TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm liên quan 8 1.1 Khái niệm tiền lương, tiền thưởng và phúc lợi Trong nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường sức lao động là hàng hoá do vậy tiền lương là giá cả của sức lao động. Tiền lương phản ánh nhiều quan hệ kinh tế, xã hội khác nhau. Tiền lương trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động (mua sức lao động) trả cho người lao động (người bán sức lao động).
Đó là quan hệ kinh tế của tiền lương. Bên cạnh đó, do tính chất đặc biệt của loại hàng hoá sức lao động mà tiền lương không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn là một vấn đề xã hội rất quan trọng liên quan đến đời sống và trật tự xã hội. Tại công ước số 95 của ILO, công ước về bảo vệ tiền lương, 1949: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”.1] Công ước 95 về bảo vệ tiền lương, 1949. Với định nghĩa này, ILO cho rằng tiền lương là sự trả công lao động bằng tiền mặt theo thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ hoặc theo pháp luật quốc gia sau khi NLĐ hoàn thành công việc.
Tại Điều 90 Bộ Luật lao động 2019 quy định: “Tiền lương là số tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.” [1] Như vậy, có thể hiểu rằng, về mặt pháp lý, tiền lương được hiểu là số lượng tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ dựa trên sự thỏa thuận của cả hai bên, bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Trong đó, mức lương không được thấp hơn mức tối thiểu do nhà nước quy định. Liên quan đến tiền lương ở Việt nam còn có một số khái niệm như: 9 Lương cơ bản là một số lượng tiền nhất định mà người sử dụng lao động thỏa thuận hoặc xác định trả cho người lao động khi họ bắt đầu thực hiện một công việc nào đó. Lương cơ bản có tính ổn định cao, không thường xuyên thay đổi và không bao gồm phụ cấp lương, tiền thưởng, phúc lợi cũng như các khoản tiền bổ sung khác, do đó lương cơ bản không phải là khoản tiền thực nhận của ngườSi lao động mà nó là cơ sở để tính trả tiền lương cho người lao động (Đỗ Thị Tươi, Đoàn Thị Yến, 2021).
Trong khu vực nhà nước, tiền lương cơ bản được xác định như sau: Tiền lương cơ bản = Tiền lương cơ sở * Hệ số lương Lương cơ sở là mức lương do Chính phủ quy định đối với cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang. Thuật ngữ lương cơ sở được sử dụng lần đầu trong Nghị định 66/2013 ngày 27/6/2013 và đang được sử dụng cho đến thời điểm này. Có thể nói, lương cơ sở được sử dụng để xác định lương cơ bản của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, những người hưởng lương có nguồn trả lương một phần hoặc hoàn toàn từ ngân sách nhà nước. Phụ cấp lương là khoản tiền lương bổ sung mà khi xác định lương cơ bản (mức lương theo công việc, mức lương theo vị trí, hay mức lương quân hàm) chưa được tính hoặc tính chưa hết các yếu tố không ổn định so với điều kiện làm việc và sinh hoạt bình thường.
Các yếu tố không ổn định này có thể là: điều kiện lao động, tính chất của công việc, ngành nghề, địa lý (xa xôi, hẻo lánh, biên giới hải đảo),. Tiền thưởng là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành vượt so với tiêu chuẩn quy định. Khi người lao động có thành tích thì người lao động sẽ thưởng cho yếu tố thành tích đó. Phúc lợi là phần thù lao gián tiếp được doanh nghiệp trả cho người lao động dưới dạng các hỗ trợ về cuộc sống cho người lao động (Đỗ Thị Tươi, 10 2021).
Đây là các lợi ích mà người lao động nhận được từ doanh nghiệp do họ đã làm việc tại doanh nghiệp. Nó bao gồm các khoản chi trả cho các chương trình bảo hiểm và các khoản chi cho các chương trình khác liên đến sức khoẻ, sự an toàn và các lợi ích của người lao động.2 Khái niệm về quy chế lương, thưởng, phúc lợi Quy chế là văn bản nêu các điều, khoản quy định thành chế độ hoạt động chung của tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp để các thành viên trong tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp thi hành, nhằm bảo đảm sự thống nhất hành động, tinh thần kỷ luật, hiệu quả công việc và mục tiêu cần đạt tới. Các tổ chức, đơn vị đều có những quy định về nguyên tắc chung hoặc các vấn đề cụ thể để làm căn cứ điều hành vận động các bộ phận và thường được thể hiện dưới dạng quy chế. Quy chế lương, thưởng, phúc lợi có nhiều tên gọi khác nhau như quy chế lương, trả thưởng; quy chế trả lương, quy chế phân phối tiền lương và thu nhập.
hay có thể gọi với tên gọi ngắn gọn là quy chế lương, nhưng bản chất nội dung của quy chế này đều giống nhau. Tiếp cận từ góc độ quản lý, về mặt quản lý thì quy chế trả lương được coi là một thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Nhìn ở góc độ quản lý nhà nước, thì quy chế trả lương là tài liệu bắt buộc theo quy định của pháp luật để cơ quan quản lý giám sát việc thực hiện các quy định về tiền lương của doanh nghiệp thông qua hệ thống thanh tra, kiểm tra. Theo Đỗ Thị Tươi (2021), quy chế lương, thưởng, phúc lợi hay còn gọi là quy chế trả lương là văn bản quy định những nội dung, nguyên tắc, phương thức hình thành, sử dụng và phân phối quỹ tiền lương trong cơ quan, doanh nghiệp nhằm đảm bảo tính công bằng và tạo động lực trong trả lương, trả thưởng Như vậy, quy chế lương, thưởng, phúc lợi là toàn bộ các quy định về cách thức phân phối tiền lương, thu nhập của doanh nghiệp.
Các quy định này 11 được xây dựng dựa trên cơ sở các quy định của Nhà nước các văn bản hướng dẫn của các bộ ngành về tiền lương, các văn bản quy định của doanh nghiệp. Quy chế trả lương phải công khai minh bạch trong toàn doanh nghiệp đồng thời báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương. Nội dung của quy chế lương, thưởng, phúc lợi trong doanh nghiệp Về định hướng quản lý tiền lương, hiện nay Nhà nước cho phép các doanh nghiệp chủ động xây dựng quy chế trả lương bảo đảm việc xác định nguồn quỹ, phân phối quỹ, chi trả tiền lương cho NLĐ tuân thủ theo Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn. Do vậy, quy chế trả lương của các doanh nghiệp có thể khác nhau về nội dung nhưng những nội dung quan trọng thường được đề cập và phân tích nhiều nhất vẫn là những quy định chung, Quỹ tiền lương và sử dụng quỹ tiền lương và Phân phối quỹ tiền lương cho người lao động và các nội dung liên quan đến quy định của thể thức văn bản pháp lý.
Do vậy, trong phạm vi bài viết này, dựa trên khung lý thuyết của Đỗ Thị Tươi (2021), giáo trình Quản trị thù lao lao động trong doanh nghiệp, tác giả đề cập tới những nội dung cơ bản nhất trong quy chế lương, thưởng, phúc lợi của doanh nghiệp như sau: Phần 1: Những quy định chung Phần 2: Quỹ tiền lương và sử dụng quỹ tiền lương Phần 3: Lương, thưởng, phúc lợi Phần 4: Tổ chức thực hiện Phần 5: Điều khoản thi hành 1. Những quy định chung Với mỗi quy chế lương, thưởng, phúc lợi (QCLTPL) thì phần quy định chung cũng đề cập tới những nội dung cơ bản nhất mang tính định hướng cho 12 toàn bộ QCLTPL. Trong phần quy định chung của QCLTPL thường có các nội dung cơ bản sau: * Những căn cứ để xây dựng quy chế lương, thưởng, phúc lợi: Căn cứ xây dựng là các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước mà đơn vị phải thực hiện; các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của các đơn vị quản lý nhà nước (nếu có), các nghị quyết, quyết định, điều lệ tổ chức… của công ty. Căn cứ để xây dựng quy chế lương bao gồm: Căn cứ vào Bộ luật lao động hiện hành; Nghị định Quyết định, Thông tư, Công văn,… đề cập đến tiền lương, phụ cấp lương, tiền thưởng, các chế độ phúc lợi,… Điều lệ Công ty; Thỏa ước lao động tập thể của ngành, của doanh nghiệp.
* Những nguyên tắc chung trong trả lương Công khai, dân chủ trong xây dựng quy chế lương. Phân phối theo lao động, trả lương gắn với năng suất, chất lượng và hiệu quả của từng người, từng bộ phận lao động. Những người thực hiện các công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ thuật cao… thì được trả lương cao hơn và ngược lại. Khắc phục tình trạng phân phối bình quân, không gắn với kết quả lao động.
Hưởng lương theo đúng người, đúng việc, có sự thay đổi phù hợp với các chức danh công việc nhất định. Người lao động làm các công việc nặng nhọc độc hại, nguy hiểm cần phải có lương cao hơn công việc làm trong môi trường làm việc bình thường. Quỹ lương được phân phối trực tiếp cho NLĐ làm việc trong công ty, không được sử dụng vào mục đích khác. Lãnh đạo doanh nghiệp phối hợp với công đoàn cùng cấp để xây dựng quy chế lượng.
Quy chế cần phải được công khai đến từng lao động trong doanh 13 nghiệp và báo cáo với cơ quan quản lý có thẩm quyền; Đối với doanh nghiệp nhà nước thì báo cáo với cơ quan có thẩm quyền giao đơn giá tiền lương. * Những nguyên tắc chung khác Phần này của QCLTPL có thể đề cập đến những quy định chung khác như đối tượng áp dụng, các thuật ngữ được sử dụng, các từ viết tắt trong quy chế trả lương; Quy định về trả lương do điều động công việc mang tính tạm thời, hoặc quyền hạn trong vấn đề trả lương của những cá nhân được giao trách nhiệm.