Chương 1: Cơ sở lý luận về tiến độ thi công và quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình giao thông Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình tại tổng công ty xây dựng công trình giao thông 6 giai đoạn 2010-2015. Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tiến độ thi công xây dựng tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 6- CTCP. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾN ĐỘ VÀ QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 1. Lý luận chung về tiến độ thi công 1.
Khái niệm tiến độ thi công Tiến độ thi công xây dựng công trình: được đo lường bằng thời gian thực tế hoàn thành một công trình xây dựng tính từ khi có lệnh khởi công đến khi hoàn thành công trình. Tiến độ thi công được lặp nhằm ấn định: Trình tự tiến hành công tác; Quan hệ ràng buộc các dạng công tác với nhau; Thời gian hoàn thành công trình; Xác định nhu cầu nhân tài vật lực. Tiến độ thi công là một sơ đồ bố trí tiến trình thực hiện các hạng mục công việc nhằm xây dựng công trình theo hợp đồng thi công đã kí kết giữa nhà thầu với chủ đầu tư, nhà thầu với các đơn vị thi công. Nó là một tài liệu quan trọng để nhà thầu tổ chức và quản lý mọi hoạt động thi công ngoài công trường.
Tiến độ thi công thực chất là một bản kế hoạch thi công, không phải những số liệu được nêu ra là hoàn toàn giống như thực tế thi công sau này. Lý do là vì giai đoạn lập tiến độ thi công nằm trong thiết kế kỹ thuật. Ít nhất sau một năm đối với công trình có qui mô nhỏ, ví dụ một một tuyến đường vài cây số. Nếu là xây dựng một tuyến đường vài chục cây số và cầu, thì phải sau vài năm mới tiến hành thi công vì phải đền bù, giải phóng mặt bằng thi công, chuẩn bị vật liệu v.
Đây là lý do giải thích, tại sao trong quá trình thi công luôn xảy ra những trường hợp khác với bản thiết kế được duyệt. Hậu quả của nó là phải kéo dài thời gian thi công. Thực tế cho thấy rằng nếu các dự án xây dựng không có tiến độ thi công thì không xác định được thời gian hoàn thành dự án. Các công việc không được thực hiện theo trình tự kỹ thuật và không tuân thủ nghiêm ngặt về thời gian bắt đầu và kết thúc thì không thể kiểm soát được công việc, từ đó nhà thầu và chủ đầu tư không biết được chính xác thời gian hoàn thành của dự án.
Việc chậm trễ trong quá trình thi công sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chi phí, phần 5 lớn các dự án xây dựng bị chậm tiến độ đều làm cho chi chí phí tăng lên 20- 30% tổng giá trị. Chậm bàn giao công trình còn làm chậm quay vòng vốn đầu tư, nhà thầu thì bị ứ đọng vốn. Vì vậy để dự án đảm bảo về mặt thời gian nhanh nhất , chất lượng tốt nhất và chi phí hợp lí , để tránh sự ách tắc, cản trở trong quá trinh thi công thì cần phải lập một kế hoạch tiến độ thi công tối ưu và khoa học. Căn cứ yêu cầu lập tiến độ Khi lập kế hoạch tiến độ thi công cần căn cứ vào các tài liệu và điều kiện sau: Bản vẽ thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công công trình; Quy định thời gian khởi công và hoàn thành các hạng mục công trình; Dự toán thi công và giá bỏ thầu ký hợp đồng; Định mức lao động, các quy trình quy phạm, các chỉ dẫn thi công có liên quan; Phương án thi công các công tác chủ yếu; Điều kiện sử dụng lao động, xe máy thiết bị thi công cho công trình; Sự phối hợp thi công giữa các đơn vị tham gia; Các số liệu, tài liệu khảo sát có liên quan về điều kiện địa hình, địa chất khí tượng thủy văn.
Phương pháp lập tiến độ thi công 1. Lập tiến độ bằng phương pháp sơ đồ ngang (Gantt) Những vấn đề chung về phương pháp GANTT: Để tiến hành lập kế hoạch tiến độ và điều khiển sản xuất xây dựng, người ta thường sử dụng phương pháp sơ đồ Gantt. Nội dung của phương pháp Gantt là xác định thứ tự thực hiện các công việc của quá trình sản xuất xây dựng từ công việc chuẩn bị đến công việc hoàn thành kết thúc xây dựng lên biểu đồ dạng sơ đồ ngang tùy thuộc vào: Độ dài thời gian của mỗi công việc; Các điều kiện có trước của các công việc; Các thời hạn cần phải tuân thủ; Khả năng thực hiện và khả năng xử lý những vấn đề (thời gian làm thêm, vốn đầu tư đã thực hiện). Sơ đồ Gantt sau khi xây dựng xong sẽ cho phép chúng ta theo dõi tiến trình 6 thực hiện các công việc trong hoạt động xây dựng, xác định thời gian thực hiện các công việc đó, đồng thời cũng có thể biết được khoảng thời gian dự trữ của từng công việc.
Kế hoạch tiến độ sản xuất xây dựng được thể hiện trên biểu đồ Gantt sẽ làm cơ sở cho việc điều khiển quá trình thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra. Đây là một phương pháp đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng. Sơ đồ Gantt là công cụ dễ nhìn, thuận tiện cho quá trình tổ chức, điều khiển. Để sử dụng phương pháp Gantt, chúng ta cần phải tiến hành một số công việc sau: Cố định một công trình xây dựng; Xác định khối lượng công tác những công việc khác nhau cần phải thực hiện trong khuôn khổ của công trình đó; Xác định độ dài thời gian thực hiện và lực lượng tham gia, nhu cầu nguồn lực cần thiết cho các công việc đó; Xác định mối liên hệ giữa các công việc; Xác định thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và thời gian dự trữ của mỗi công việc.
Trình tự lập kế hoạch tiến độ theo phương pháp Gantt: Để lập kế hoạch tiến độ theo phương pháp Gantt chúng ta tiến hành theo trình tự sau: Bƣớc 1: Phân tích quá trình thi công xây dựng công trình và chia quá trình thi công xây dựng thành các quá trình thành phần. Cụ thể là chia đối tượng thi công thành các hạng mục công trình, các hạng mục công trình lại được chia ra thành các công việc hoặc các nhóm công việc theo đặc điểm kỹ thuật, công nghệ và theo tính chất về mặt tổ chức thực hiện các công việc đó. Bƣớc 2: Sắp xếp trình tự các công việc hoặc nhóm công việc một cách hợp lý theo mối quan hệ về trình tự công nghệ thực hiện. Bƣớc 3: Xác định khối lượng từng công việc hoặc nhóm công việc, đồng thời xác định độ dài thời gian thực hiện từng công việc đó.
Bƣớc 4: Xác định thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc từng công việc 7 Chú ý: Các công việc có thể thực hiện lần lượt hoặc đồng thời song song với nhau. Bƣớc 5: Lập bảng phân tích công nghệ Bảng phân tích công nghệ cần nêu rõ nội dung công việc, trình tự thực hiện từng công việc, thời gian thực hiện, thời điểm bắt đầu và kết thúc từng công việc. Bƣớc 6: Lập kế hoạch tiến độ theo sơ đồ Gantt Bƣớc 7: Xác định nhu cầu nguồn lực để thực hiện các công việc và vẽ biểu đồ nhu cầu nguồn lực lên phía dưới trục hoành. Bƣớc 8: Kiểm tra điều kiện tối ưu: Tức là đánh giá phương án xuất phát đã hợp lý chưa, nếu chưa hợp lý cần tiến hành điều chỉnh để nhận được phương án hợp lý.
Phương án kế hoạch tiến độ thực hiện được gọi là hợp lý khi: Đáp ứng được các điều kiện giới hạn: Giới hạn về thời gian thực hiện: TKH ≤ [THĐ] Giới hạn về nguồn lực: tài chính, nhân lực, vật tư,.: Qit ≤ [Qit] Trong đó: Qit: Nhu cầu nguồn lực thứ (i) như: nhu cầu tài chính, nhân lực, máy móc thiết bị,. tại thời điểm (t). Đáp ứng được mục tiêu xây dựng đề ra (an toàn, chất lượng, tiến độ). Chi phí thực hiện thi công xây dựng ít nhất.
Bƣớc 9: Điều chỉnh tiến độ bằng cách sắp xếp lại thời điểm bắt đầu hoặc thời điểm kết thúc các công việc sao cho chúng có thể tiến hành song song kết hợp, đồng thời vẫn đảm bảo trình tự thực hiện hợp lý, tiến độ thực hiện ngắn nhất hoặc quá trình thi công được thực hiện trong điều kiện điều hòa nguồn lực hợp lý nhất với chi phí thực hiện nhỏ nhất. Kết quả của bước này là chọn được phương án kế hoạch hợp lý nhất Bƣớc 10: Đề ra biện pháp tổ chức thực hiện ở giai đoạn tiếp theo. Lập tiến độ bằng phương pháp sơ đồ mạng (PERT) Những vấn đề chung về phương pháp sơ đồ mạng PERT: Phương pháp sơ đồ mạng PERT được sử dụng rộng rãi trong quản trị sản xuất và thực hiện dự án. Trong đó sự hoàn thành của công việc này có quan hệ chặt chẽ 8 với sự hoàn thành của các công việc khác.
Phương pháp sơ đồ mạng được lập trên cơ sở lý thuyết đồ thị. Lý thuyết sơ đồ mạng được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau và trong lĩnh vực lập kế hoạch tiến độ và điều khiển thi công. Sơ đồ mạng là một hệ thống được hình thành từ tập hợp M và tập hợp H với mối quan hệ R. Các phần tử của tập hợp M được thể hiện trên các nút, còn các phần tử của tập hợp H được thể hiện trên các cung.
Trong tổ chức xây dựng giao thông, phương pháp sơ đồ mạng được áp dụng rộng rãi để lập kế hoạch tiến độ và điều khiển thi công. Sơ đồ mạng là một hệ thống theo kiểu mạng lưới được hình thành do sự sắp xếp có hướng theo một trật tự nhất định giữa hai yếu tố của mạng là cung và đỉnh. Sự sắp xếp này nhằm thể hiện mối liên hệ phụ thuộc của các quá trình diễn biến để đi đến mục tiêu nào đó. Xét trong phạm vi tổ chức thi công xây dựng, ta thấy rằng việc sử dụng sơ đồ mạng để thiết kế tổ chức thi công có những ưu điểm sau: Làm rõ mối liên hệ phụ thuộc về công nghệ, kỹ thuật giữa các công việc trong quá trình thi công.
Chỉ ra các công việc then chốt cần tập trung chỉ đạo (các công việc nằm trên đường găng) và các công việc có thời gian dự trữ có thể sử dụng để điều chỉnh trong qúa trình thi công (công việc không găng).