Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG Ở ĐƠN VỊ DỰ TOÁN QUÂN ĐỘI 1. Một số vấn đề chung về ngân sách ở đơn vị dự toán quân đội 1. Ngân sách, Ngân sách Nhà nước * Ngân sách Dựa trên cơ sở phân tích khoa học về quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của tài chính và ngân sách, hầu hết các nhà khoa học tài chính đều cho rằng tài chính nói chung và ngân sách nói riêng là phạm trù kinh tế - lịch sử. Là phạm trù kinh tế, nó gắn với phạm trù kinh tế hàng hoá.
Là phạm trù lịch sử, nó gắn với sự ra đời của Nhà nước và công cụ kinh tế của Nhà nước. Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện các quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị các nguồn lực tài chính, bằng huy động một bộ phận thu nhập của xã hội dưới hình thức thuế và động viên khác để đáp ứng các nhu cầu của Nhà nước. “Ngân sách, tổng số tiền thu và chi trong một thời gian nhất định của nhà nước, xí nghiệp hoặc của một cá nhân” [22, tr 1106]. Khái niệm ngân sách thường dùng để chỉ tổng số thu (tiền, tài sản) và chi của một cá nhân hoặc một đơn vị trong một thời gian nhất định.
Một bảng tính toán tất cả các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó, chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là NSNN. * Ngân sách Nhà nước Hiện nay, theo cách tiếp cận có những khái niệm NSNN khác nhau. “Ngân sách Nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền KT-XH của mình”. Theo Điều 1, Luật Ngân sách được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các 4 khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”, [17, tr 7].
Xét về các quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng tài sản, tiền của tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở Pháp luật qui định. Bản chất của NSNN là đằng sau những con số thu, chi đó là các mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác nhau: Doanh nghiệp, hộ cá nhân, gia đình ở trong và ngoài nước có liên quan, gắn liền với quá trình hình thành và phân phối, sử dụng quỹ ngân sách. NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Quá trình hình thành, phân bổ, quản lý việc chi tiêu sử dụng ngân sách được Nhà nước điều hành thông qua Mục lục NSNN.
- Mục lục NSNN Mục lục NSNN là bảng phân loại các nội dung thu, chi thuộc giao dịch thường niên của NSNN theo những tiêu thức và phương pháp nhất định nhằm phục vụ cho việc quản lý, điều hành (lập, chấp hành, quyết toán) cũng như việc kiểm soát và phân tích các hoạt động của NSNN một cách hiệu quả, tiện lợi. Mục lục NSNN có vai trò rất quan trọng trong quá trình quản lý điều hành NSNN, cụ thể: Quá trình lập DTNS, nhờ có mục lục NSNN mà cơ cấu thu, chi NSNN được bố trí đúng định hướng phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và phù hợp với cơ cấu kinh tế của đất nước ở từng thời kỳ phát triển mà các kế hoạch kinh tế vĩ mô ở từng giai đoạn đã được Nhà nước hoạch định. 5 Trong quá trình chấp hành ngân sách, mục lục NSNN có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và kiểm soát thu, chi, hướng cho các đơn vị thực hiện đúng các chủ trương, chính sách, chế độ của Nhà nước. Nhất là đối với công tác kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các nhiệm vụ thu, chi ngân sách.
Qua đó xác định tính chính xác của quá trình thực hiện các nội dung mục lục NSNN cụ thể do Nhà nước qui định tại đơn vị được thụ hưởng ngân sách nhà nước. Trong quyết toán ngân sách, mục lục NSNN được phân loại cụ thể, chi tiết nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quyết toán ngân sách ở các cấp, các đơn vị, các ngành. Cụ thể trong các công đoạn: báo cáo tổng hợp quyết toán thu, chi cộng với tình hình kinh tế xã hội. để thuyết minh báo cáo quyết toán.
Mục lục NSNN là công cụ để các nhà quản lý kiểm tra, kiểm soát quá trình quyết toán ngân sách có đúng với nội dung mục lục NSNN, đúng với chỉ tiêu dự toán NSNN được giao hàng năm của các đơn vị hay không. Ngân sách Quốc phòng Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “NSQP, khoản kinh phí quan trọng thuộc NSNN dự chi hàng năm cho quốc phòng được quốc hội phê chuẩn”. Theo giáo trình Tài chính dự toán của Học viện Hậu cần: “NSQP là một bộ phận của NSNN được sử dụng trực tiếp vào việc chi phí cho quốc phòng. Theo nghĩa hẹp, NSQP là quỹ tiền tệ tập trung, khâu chủ yếu của tài chính quân đội được phân phối và sử dụng thống nhất theo sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và BQP để thực hiện các nhiệm vụ hàng năm của Quân đội”, [11, tr 131].
NSQP bao gồm ngân sách các Quân khu; Quân đoàn; Quân binh chủng, các ngành và các đơn vị trực thuộc BQP. Quân đội với chức năng, nhiệm vụ của mình, được Nhà nước cung cấp kinh phí hoạt động hàng năm gọi là NSQP. Bên cạnh nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị quân đội cũng tham gia lao động sản xuất làm 6 kinh tế, tạo nguồn thu tài chính để cải thiện, nâng cao đời sống của bộ đội và bổ sung kinh phí hoạt động. NSQP được thực hiện cấp phát tại đơn vị dự toán quân đội theo phương pháp cấp phát không hoàn trả trực tiếp, bảo đảm nhu cầu chi của đơn vị, không phụ thuộc vào việc các hoạt động của đơn vị có mang lại các khoản thu cho NSNN hay không.
Quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng cần những khoản chi nhất định. Nội dung chi của NSQP chủ yếu bao gồm: chi bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của quân nhân, cán bộ, công chức quốc phòng; chi bảo quản, sửa chữa, duy trì các hoạt động thường xuyên; chi huấn luyện, diễn tập; xây dựng, huấn luyện và huy động lực lượng dự bị động viên; chi nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự và đào tạo; chi mua sắm vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự; chi xây dựng, bảo quản các công trình quốc phòng, các khoản chi khác cho quốc phòng. Do đặc điểm của tổ chức biên chế, yêu cầu nhiệm vụ của các đơn vị dự toán quân đội nên NSQP có những đặc điểm riêng. Theo phương thức bảo đảm, NSQP được phân thành ngân sách bảo đảm và ngân sách sử dụng.
Ngân sách bảo đảm là khoản kinh phí thuộc NSQP dự chi hàng năm bảo đảm cho hoạt động của các ngành các đơn vị do các ngành nghiệp vụ bảo đảm toàn quân quản lý ngân sách, bảo đảm. Các ngành bảo đảm toàn quân là các cơ quan, đơn vị trực thuộc BQP hoặc Bộ Tổng Tham mưu, các Tổng cục có chức năng và nhiệm vụ bảo đảm, quản lý ngành trong các lĩnh vực hoạt động được giao. Ngân sách sử dụng là khoản kinh phí thuộc NSQP dự chi hàng năm bảo đảm cho mọi mặt hoạt động của các đơn vị thuộc BQP. Các đơn vị đó là các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, tổng cục, học viện, nhà trường, bệnh viện.
trực thuộc Bộ trở xuống. Đối với cấp Quân khu; Quân đoàn; Quân binh chủng và tương đương việc chi tiêu ngân sách chủ yếu trong phạm vi ngân sách sử dụng. Nội dung gồm: - Chi bảo đảm cho cá nhân: lương, phụ cấp, trợ cấp, tiền ăn. 7 - Chi hoạt động của các ngành nghiệp vụ tại đơn vị.
Đơn vị dự toán quân đội 1. Khái niệm Đơn vị dự toán quân đội là các cơ quan, các đơn vị chủ yếu làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu… được bảo đảm tài chính để thực hiện nhiệm vụ từ nguồn NSNN chi cho quốc phòng là cơ bản. Nói cách khác đơn vị dự toán quân đội là những đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước, nguồn kinh phí hoạt động do NSNN bảo đảm là chủ yếu. Quân đội với chức năng, nhiệm vụ của mình được Nhà nước cung cấp kinh phí hoạt động hàng năm.
Bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị quân đội còn có nhiệm vụ khai thác tiềm năng về lao động, tận dụng năng lực về chuyên môn kỹ thuật… để tiến hành lao động sản xuất, làm kinh tế (gọi chung là các hoạt động có thu) nhằm tạo nguồn thu tài chính cải thiện đời sống, bổ sung kinh phí, đóng góp một phần cho ngân sách. Nguyên tắc cấp phát tài chính đối với đơn vị dự toán thực hiện theo nguyên tắc cấp phát không hoàn trả trực tiếp, bảo đảm nhu cầu của đơn vị, không phụ thuộc vào việc các hoạt động của đơn vị có mang lại các khoản thu cho NSNN hay không. Đơn vị dự toán các cấp trong quân đội Theo quy định tại Nghị định số 10/2004/NĐ-CP ngày 07/01/2004 của Chính phủ, các đơn vị dự toán thuộc BQP bao gồm: - Bộ Quốc phòng là đơn vị dự toán cấp 1, quan hệ trực tiếp với Bộ Tài chính; - Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục và đơn vị tương đương là đơn vị dự toán cấp 2, quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 1; - Sư đoàn và đơn vị tương đương là đơn vị dự toán cấp 3, quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 2.