Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Nguyễn Ngọc Trường – Luận văn thạc sỹ 3 Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp 1.1 Những kiến thức chung về doanh nghiệp 1.1 Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các họat động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận. Một doanh nghiệp được coi là kinh doanh có hiệu quả khi doanh nghiệp đó thỏa mãn tối đa nhu cầu của thị trường trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp là những tế bào kinh tế - xã hội của nền kinh tế quốc dân, đa dạng về hình thức, quy mô, trình độ kỹ thuật, tính chất sở hữu và phương thức họat động tạo ra sự năng động của nền kinh tế.
Sức mạnh của nền kinh tế dựa vào sức mạnh của các tế bào kinh tế này. Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp muốn được thành lập và họat động phải thực hiện đăng ký kinh doanh và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp được tự chủ và đăng ký kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm hoặc không đòi hỏi kinh doanh có điều kiện. Các ngành nghề pháp luật có quy định điều kiện kinh doanh bao gồm: lĩnh vực tác động đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; lĩnh vực tài chính, ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán và thị trường chứng khoán; lĩnh vực tác động đến sức khỏe cộng đồng; văn hóa, thông tin, báo chí, xuất bản; dịch vụ giải trí; kinh doanh bất động sản; khảo sát, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái; phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo; xuất khẩu lao động; dịch vụ pháp lý; dịch vụ khắc dấu, dịch vụ bảo vệ; dịch vụ du lịch lữ hành quốc tế; …thì doanh nghiệp chỉ được đăng ký kinh doanh khi có đủ điều kiện cần thiết.
Nguyễn Ngọc Trường – Luận văn thạc sỹ 4 Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp 1.2 Các lọai hình doanh nghiệp ở Việt Nam Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các lọai hình doanh nghiệp kinh doanh theo pháp luật thuộc mọi thành phần kinh tế. Nhà nước bảo đảm quyền tự do, bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh của các doanh nghiệp, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các họat động kinh doanh. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, ở nước ta có các lọai hình doanh nghiệp sau: a. Công ty cổ phần Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khóan các loại để huy động vốn. Công ty trách nhiệm hữu hạn: Gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: * Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp; Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nguyễn Ngọc Trường – Luận văn thạc sỹ 5 Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp Không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. * Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp trong đó: Do một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu; Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty; Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Công ty hợp danh Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty; Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi họat động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Nhóm công ty Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Nguyễn Ngọc Trường – Luận văn thạc sỹ 6 Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp Bao gồm các hình thức: Công ty mẹ - công ty con; Tập đoàn kinh tế và các hình thức khác. Công ty mẹ - công ty con: Tùy thuộc vào lọai hình pháp lý của công ty con, công ty mẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông trong quan hệ với công ty con; Tập đoàn kinh tế: Là nhóm công ty có quy mô lớn, có cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh đa dạng, vừa có chức năng sản xuất kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh doanh nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cao nhất các nguồn lực ban đầu (vốn, sức lao động, công nghệ.) để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hóa lợi nhuận.
Trong đó các tập đoàn kinh tế là tổ hợp các doanh nghiệp thành viên (công ty con) do một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo chi phối về nguồn lực ban đầu, chiến lược phát triển và họat động tại nhiều ngành, lĩnh vực ở nhiều vùng lãnh thổ khác nhau.3 Phân lọai doanh nghiệp 1.1 Mục đích của việc phân loại doanh nghiệp Việc phân lọai doanh nghiệp nhằm mục đích: a. Phân lọai để phân công quản lý doanh nghiệp Quản lý nhà nước về kinh tế chủ yếu là quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp. Quản lý nhà nước là một loại lao động. Lao động quản lý nhà nước có năng suất lao động cao nên cần phải thực hiện phân công lao động một cách khoa học.
Cơ sở để phân loại lao động là phân chia công việc. Trong trường hợp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, phân chia công việc chính là phân loại doanh nghiệp. Phân loại để nhà nước xây dựng các thể chế kinh tế cho họat dộng của doanh nghiệp được sát hợp Quản lý nhà nước trước hết là điều chỉnh các quan hệ sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp. Muốn vậy mọi họat động sản xuất kinh doanh phải có Nguyễn Ngọc Trường – Luận văn thạc sỹ 7 Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp chuẩn mực, đó là thể chế.
Để thể chế ban ra được sát cho từng doanh nghiệp phải xây dựng thể chế cho từng doanh nghiệp cụ thể, trong đó có tính tới đặc điểm của chúng. Nhưng đó là điều không cần thiết và không thể làm được, khi số lượng doanh nghiệp bao giờ và ở nước nào cũng lên đến hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn. Bên cạnh đó, tuy có nhiều doanh nghiệp, nhưng chúng giống nhau về nhiều mặt. Chính vì vậy, nếu phân chúng thành từng nhóm tương tự thì có thể xây dựng một hệ thống chuẩn mực và có thể áp dụng cho cả lọat.
Phân loại để định hướng cho sự ra đời các doanh nghiệp Về lý thuyết, có thể có nhiều lọai hình doanh nghiệp. Tuy vậy, cho ra đời những loại hình nào là quyền của mỗi nhà nước. Có nhà nước chỉ cho ra đời một số loại hình nhất định. Ở những nước có sự hạn định này, quan niệm về loại hình doanh nghiệp không thuần túy là một quan niệm tổ chức kinh tế mà đã trở thành một quan niệm pháp lý.2 Cách phân loại và các loại hình doanh nghiệp Do có nhiều mục đích quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nên có nhiều cách cách phân lọai doanh nghiệp, nhưng phổ biến hơn cả là những cách sau: a.
Căn cứ vào vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp * Doanh nghiệp nhà nước: là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50 % vốn điều lệ. Tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. * Doanh nghiệp của tư nhân: là các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân.
Doanh nghiệp của tư nhân và hộ kinh doanh cá thể tạo thành khu vực kinh tế tư nhân (trong niên giám thống kê thường gọi là doanh nghiệp ngoài quốc doanh). * Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.