Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng d ng công trình. Chương 2: Th c trạng quản lý chất lượng d ng tu ế n đường sắt đô thị đoạn Bến Thành – Suối Tiên của liên danh Shimizu - Meada Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng d ng tu ến đường sắt đô thị đoạn Bến Thành – Suối Tiên của liên danh Shimizu - Meada 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. K qu t về c ất lƣợ g v ệ t ố g qu lý c ất lƣợ g 1. Khái niệm về chất lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm xây dựng, quản lý chất lượng 1.
Khái niệm chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là một phạm tr rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế, xã hội. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Chất lượng là sự ph hợp với tiêu chí kỹ thuật xem sản phẩm đáp ứng mục tiêu và các dung sai được đưa ra bởi nhà thiết kế, khách hàng. Sự ph hợp với các đặc điểm kỹ thuật thì có thể đo được một cách trực tiếp, d nó có thể không liên quan trực tiếp với ý kiến về chất lượng của khách hàng.
Chất lượng chính là sự tập trung vào các chức năng sản phẩm hoặc tính hữu dụng được xác định trước. Sự thích hợp cho sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của người d ng hoặc nhóm người d ng cụ thể nào đó. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Do con người bị ảnh hưởng các nền văn hóa khác nhau trên thế giới, nên quan niệm về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau.
Theo các tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa đã đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các thuộc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” [2] Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng: Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó không đáp ứng được nhu cầu chấp nhận thì bị đánh giá là chất lượng kém, cho d trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình. 4 Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu còn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.
Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến m i đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn của nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội. Nhu cầu có thể được công bố r ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả r ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện chúng trong quá trình sử dụng. Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà chất lượng còn thể hiện qua cả một hệ thống, một quá trình.
Khái niệm chất lượng trên đây được g i là chất lượng theo nghĩa hẹp. Còn khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ hậu mãi, vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn. Đó là những yếu tố khách hàng cũng quan tâm khi thấy sản phẩm mà h dự định mua thỏa mãn nhu cầu của h. Từ những quan điểm trên, theo cách tiếp cận của các nhà sản xuất thì khái niệm về chất lượng sản phẩm như sau: Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các thuộc tính của sản phẩm có thể đo, đếm được về hình dáng, mỹ quan, độ bền, độ an toàn, thuận tiện trong quá trình sử dụng, đáp ứng nhu cầu người sử dụng, ph hợp với trình độ phát triển của xã hội về khoa h c công nghệ, kinh tế, văn hóa xã hội trong từng giai đoạn.
Chất lượng sản phẩm d ng Công trình xây dựng là sản phẩm được hình thành qua các giai đoạn từ ý tưởng thiết kế đến sản xuất sau đó đưa vào sử dụng vận hành, bảo trì. Do vậy, sản phẩm xây dựng cũng mang đầy đủ các thuộc tính của sản phẩm nói chung, ngoài ra nó còn có những đặc điểm như: Được xây dựng và sử dụng tại chỗ nên phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện địa lý, địa chất công trình, địa chất thủy văn nơi xây dựng. 5 Kích thước và tr ng lượng lớn, cấu tạo phức tạp đòi hỏi phải có những thiết bị, công nghệ thi công hiện đại, nhân lực chuyên nghiệp trình độ cao, tiến độ thi công thay đổi để ph hợp từng giai đoạn. Thời gian xây dựng công trình dài, chi phí sản xuất sản phẩm lớn đòi hỏi doanh nghiệp xây dựng phải tổ chức thi công hợp lý hoàn thành dứt điểm từng hạng mục để sớm đưa vào sử dụng, tránh thi công dang dở để lâu làm hư hại công trình do điều kiện thời tiết theo thời gian.
Tổ chức quản lý sản xuất phức tạp đòi hỏi doanh nghiệp phải bố trí hệ thống dây chuyền thi công hiệu quả và giám sát chặt chẽ chất lượng đầu vào – đầu ra. Sản xuất xây dựng đa phần được thi công ngoài trời do đó chất lượng công trình bị ảnh hưởng rất lớn do yếu tố thời tiết theo m a. Chất lượng là kết quả của một quá trình từ sản xuất đến tiêu d ng và cả sau tiêu d ng. C ất lƣợ g s p ẩ xây dự g thường được đánh giá qua các chỉ tiêu sau: - Đồ bền chắc của công trình: Tuổi th công trình, khả năng chịu động đất, khả năng chịu bão, cường độ chịu nén, kéo, uốn.
của các kết cấu, độ lún và biến dạng của công trình. - Công năng của công trình ph hợp với công dụng thiết kế, đảm bảo được chức năng phục vụ. - Mỹ quan: Hình thức, màu sắc ph hợp với quần thể kiến trúc xung quanh, thể hiện nét văn hóa, bản sắc của địa phương. - Ảnh hưởng với môi trường khu vực có công trình.
- Đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế - xã hội khu vực Những chỉ tiêu nêu trên được thực hiện ở những cấp độ nhất định. Các cấp độ này được xác định dựa trên yêu cầu của xã hội, của Chủ đầu tư, của người sử dụng công trình hoặc người chịu trách nhiệm về công trình, thời gian hoàn thành, giá thành công trình đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, với những 6 chỉ tiêu nói trên, ở các cấp độ xác định, sản phẩm xây dựng còn thỏa mãn những yêu cầu khác như sau: - Yêu cầu về kinh tế: Giá trị toàn bộ dự án hoặc giá thành công trình thuộc dự án phải nằm trong một giới hạn nhất định, ph hợp với mức chi phí mà Chủ đầu tư đã định trước cho dự án. - Yêu cầu về thời gian: Ngày khởi công, tổng tiến độ, tiến độ từng hạng mục hay các điểm dừng kỹ thuật, ngày kết thúc dự án, các điều chỉnh về thời gian nếu có (có thể do chủ quan hoặc khách quan) phải hợp lý.
Toàn bộ các thỏa thuận trên thể hiện trong hợp đồng hoặc các phụ lục kèm theo của hợp đồng.TS Trần Chủng nguyên cục trưởng cục giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng – Bộ xây dựng có nêu ra định nghĩa về chất lượng công trình xây dựng như sau: Chất lượng công trình xây dựng là mức độ đáp ứng của công trình với các yêu cầu đặt ra (yêu cầu kỹ thuật, thời gian, chi phí, độ bền vững, an toàn, môi trường, các yêu cầu này có thể được quy định trong hợp đồng được ngầm hiều chung. [5] Vì vậy, ngoài các đặc điểm của công trình xây dựng thì chất lượng công trình giao thông đô thị còn đòi hỏi tính thẩm mỹ ph hợp với quy hoạch đô thị, đáp ứng nhu cầu đi lại của cộng đồng dân cư, khả năng lưu thông hàng hóa tại các đô thị lớn trong hiện tại và tương lai, thể hiện đô thị thông minh và hiện đại. Quản lý chất lượng Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này.
Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được g i là hoạt động quản lý chất lượng. Tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (ISO) định nghĩa: "Quản lý chất lượng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng những phương tiện 7 như lập kế hoạch, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng". Tiêu chuẩn Việt Nam định nghĩa: "Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng". Trong đó: - Hoạch định chất lượng: là một phần của quản lý chất lượng, tập trung vào việc lập mục tiêu chất lượng và quy định các qui trình kiểm tra cần thiết và các nguồn lực có liên quan để thực hiện các mục tiêu chất lượng.
- Kể so t c ất lƣợ g: là một phần của quản lý chất lượng, tập trung vào việc thực hiện các yêu cầu chất lượng. - Đ b o c ất lƣợ g: là một phần của quản lý chất lượng, tập trung vào cung cấp lòng tin rằng đã đáp ứng các yêu cầu chất lượng được đặt ra. Mục đích của đảm bảo chất lượng là đề phòng sai sót, phát hiện và xác định nguyên nhân, cũng như khắc phục và đề phòng sai sót tái xuất hiện. Cơ sở của đảm bảo chất lượng là nêu r những việc làm gì sẽ được tiến hành, thực hiện những việc đã đề ra, lập hồ sơ về những việc đã làm, kiểm tra kết quả thực hiện và tiến hành điều chỉnh, cải thiện tình hình.