chương 1 tác giả đã đưa ra một số khái niệm về cơ bản về chất lượng và QLCL dựa trên những khía cạnh khác nhau từ các phía như: khách hàng, nhà sản xuất v. Liên quan đến chất lượng và QLCL thi công tác giả đã đưa ra một số khái niệm, vai trò và yêu cầu về chất lượng thi công. Từ việc nắm rõ các khái niệm, các yêu cầu cơ bản về chất lượng và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói chung và các công trình bê tông nói riêng sẽ là tiền đề để định hướng cho nội dung nghiên cứu tiếp theo của tác giả. Để hiểu rõ hơn về công tác quản lý và nâng cao chất lượng trong giai đoạn thi công tại ban quản lý dự án công trình công cộng, trong chương 2 tác giả sẽ đưa ra các nội dung cơ sở pháp lý về lý thuyết trong quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công.
Từ những cơ sở lý luận đó sẽ giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quan về mặt lý thuyết, tạo cơ sở cho những nội dung nghiên cứu tiếp theo. 22 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 2. Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 do Quốc hội Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành : - Quy định vai trò và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng được phân cấp, làm rõ gồm: Bộ Xây dựng, UBND các tỉnh, quận, huyện. Tránh được tình trạng nhiều cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng khi công trình sự cố không có đơn vị chịu trách nhiệm sẽ gây thiệt hại cho xã hội.
Trong đó cơ quan chuyên môn về xây dựng là các cơ quan trực thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Sở Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc UBND cấp huyện; - Chủ đầu tư vốn ngân sách Nhà nước và vốn Nhà nước là cơ quan, tổ chức, được người quyết định đầu tư giao quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng. Căn cứ điều kiện cụ thể của dự án sử dụng vốn NSNN, người quyết định đầu tư giao BQLDA chuyên ngành hoặc khu vực làm chủ đầu tư; trường hợp không có BQLDA thì người quyết định đầu tư lựa chọn cơ quan, tổ chức đủ điều kiện làm chủ đầu tư. Khắc phục tình trạng nhiều chủ đầu tư không đủ năng lực thực hiện và quản lý các dự án. - Bảo hiểm bảo hành là loại bảo hiểm mới được quy định trong Luật xây dựng 2014; Theo quy định thì 3 loại bảo hiểm bắt buộc: Bảo hiểm công trình trong thời gian thi công XD; Nhà thầu tư vấn Khảo sát, Thiết kế mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với công trình cấp II, Nhà thầu thi công phải mua bảo hiểm cho người lao động; - Về Thẩm quyền thẩm định dự án: Dự án quan trọng quốc gia do Hội đồng thẩm định nhà nước; đối với các dự án sử dụng vốn NSNN thì do Cơ quan chuyên môn về xây dựng chủ trì thẩm định; Vốn nhà nước ngoài NSNN: thì cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định TKCS; Cơ quan chuyên môn thuộc người quyết định đầu tư chủ trì thẩm định thiết kế phần công nghệ, các nội dung khác của dự án; Đối với dự án vốn khác: Cơ quan chuyên môn về xây dựng về XD thẩm định Thiết kế cơ sở công trình cấp I, đặc biệt, công trình công cộng có ảnh hưởng an toàn, môi trường; cơ quan chuyên môn về xây dựng của người quyết định đầu tư thẩm định công nghệ, các nội dung khác của dự án.
Các dự án còn lại do người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định; 23 - Về Thẩm quyền thẩm định thiết kế xây dựng, TKBVTC và dự toán: Dự án sử dụng vốn vốn NSNN: Cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định TKKT (3 bước), TKBVTC (2 bước), dự toán, người QĐĐT phê duyệt thiết kế, dự toán, riêng đối với TKBVTC, dự toán (Trường hợp thiết kế 3 bước) do chủ đầu tư phê duyệt; Dự án sử dụng vốn vốn Nhà nước: Cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định TKKT (3 bước), TKBVTC (2 bước), dự toán, riêng phần thiết kế công nghệ do Cơ quan chuyên môn của người QĐĐT thẩm định, người QĐĐT phê duyệt TKKT, dự toán (3 bước), Chủ đầu tư phê duyệt TKBVTC, dự toán (3 bước, 2 bước); Dự án sử dụng vốn khác: Cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định TKKT, TKBVTC đối với công trình cấp I, đặc biệt, công trình công cộng gây ảnh hưởng an toàn, môi trường cộng đồng, riêng phần thiết kế công nghệ, dự toán do Cơ quan chuyên môn của người Quyết định đầu tư thẩm định, Thiết kế, dự toán do người quyết định đầu tư và chủ đầu tư phê duyệt; - Về thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng: Đối với dự án sử dụng Vốn đầu tư công (có sử dụng vốn nhà nước) thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công; Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước đầu tư kinh doanh thì người đại diện của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp quyết định đầu tư; Đối với dự án sử dụng vốn khác thì chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu quyết định đầu tư. * Quy định mới về việc lấy ý kiến quy hoạch xây dựng: Cơ quan, chủ đầu tư tổ chức lập quy hoạch xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến của cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng. - Quy định mới về Giấy phép quy hoạch xây dựng: Theo đó, Giấy phép quy hoạch xây dựng là văn bản do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tư trong khu chức năng đặc thủ để làm căn cứ lập quy hoạch chi tiết hoăc lập dự án khi chưa có quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết; - Bổ sung thêm các trường hợp được miễn cấp Giấy phép xây dựng: Nhà ở riêng lẻ ở nông thôn ; công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sản dưới 500m2; Công trình chỉ lập báo cáo KTKT ở nông thôn khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng. - Hình thành 02 loại Ban quản lý dự án là Ban QLDA chuyên ngành và Ban QLDA khu vực để quản lý các dự án vốn NSNN, vốn NN theo chuyên ngành; Các ban 24 này sẽ được giao làm chủ đầu tư một số dự án và thực hiện chức năng, nhiệm vụ QLDA, thực hiện tư vấn QLDA đối với dự án khác.
- Ban QLDA một dự án: Được thành lập để thực hiện 01 dự án sử dụng vốn nhà nước có quy mô nhóm A có công trình cấp đặc biệt, công nghệ cao hoặc dự án quốc phòng, an ninh. - Thuê tư vấn QLDA: vốn nhà nước ngoài NSNN, đặc thù, đơn lẻ. - Chủ đầu tư sử dụng bộ máy chuyên môn: sửa chữa, cải tạo nhỏ, DA có sự tham gia của cộng đồng. Như vậy, theo Luật Xây dựng 2014, quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; về quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam đã được siết chặt hơn, quy định rõ ràng, cụ thể hơn.
Qua các nội dung mới của Luật Xây dựng cũng thể hiện quan điểm của Quốc hội trong việc quản lý chặt chẽ hơn nữa đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, khắc phục lãng phí thất thoát, nâng cao chất lượng công trình. Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình: - Về phạm vi điều chỉnh: Bổ sung, điều chỉnh tên gọi một số khái niệm như tổng mức đầu tư xây dựng (thay tổng mức đầu tư), dự toán xây dựng (bao gồm dự toán xây dựng công trình và dự toán gói thầu xây dựng), chỉ số giá xây dựng (mới), chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng (mới). Về nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư, có hai vấn đề được đề cập: - Chi phí đầu tư xây dựng phải được tính đúng, tính đủ cho từng dự án, công trình, gói thầu, phù hợp với yêu cầu thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, điều kiện xây dựng, mặt bằng giá thị trường tại thời điểm xác định chi phí và khu vực xây dựng công trình; - Chủ đầu tư được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn quản lý chi phí đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng để lập, thẩm tra, kiểm soát và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. - Về điều chỉnh tổng mức đầu tư, thêm lý do để được điều chỉnh: Trường hợp đã sử dụng hết chi phí dự phòng, chủ đầu tư tổ chức xác định bổ sung khoản chi phí dự phòng do yếu tố trượt giá khi chỉ số giá xây dựng do cơ quan có thẩm quyền công bố từ khi thực hiện dự án đến thời điểm điều chỉnh lớn hơn chỉ số giá sử dụng trong tổng mức đầu tư đã phê duyệt.
25 - Về chi phí xây dựng, chi phí xây dựng gồm 4 khoản chi phí (chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng, chi phí xây dựng nhà tạm để ở và điều hành thi công tại hiện trường), không bao gồm chi phí xây dựng nhà tạm để ở và điều hành thi công tại hiện trường(chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công và chi phí trực tiếp khác đều được chuyển qua chi phí hạng mục chung) 2. Căn cứ Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của chính phủ về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng: - Trên cơ sở căn cứ các nội dung Luật Xây dựng 2014 và kết quả tổng kết quá trình thực hiện Nghị định 15/2013/NĐ-CP, về cơ bản Nghị định kế thừa các nội dung ưu việt của Nghị định 15/2013/NĐ-CP, bổ sung các nội dung hướng dẫn về bảo trì công trình xây dựng hiện nay đang quy định tại Nghị định 114/2010/NĐ-CP ngày 06/12/2010 của Chính phủ về bảo trì công trình xây dựng vào Nghị định này.