CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI THAO TÚNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH VI THAO TÚNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Những vấn đề lý luận về hành vi thao túng thị trường chứng khoán 1.1 Khái niệm chứng khoán và thị trường chứng khoán 1. Khái niệm chứng khoán a. Định nghĩa chứng khoán Cho đến nay, thuật ngữ chứng khoán đã trở nên phổ biến hơn với đại bộ phận người dân trong xã hội.
Ở phương diện kinh tế, “chứng khoán” là loại công cụ tài chính có ít nhất hai bên liên quan, trong đó một bên đồng ý trả các khoản tiền trong tương lai được gọi là người phát hành; một bên lại sở hữu công cụ tài chính do đó được hưởng quyền thanh toán của bên phát hành trong tương lai gọi là NĐT1 (có thể hiểu khái quát là chủ sở hữu chứng khoán sẽ chuyển giao một phần vốn của mình cho chủ thể phát hành và được ghi nhận những quyền và lợi ích hợp pháp bằng việc nắm giữ chứng khoán của chủ thể phát hành). Từ đó, nguồn vốn được các nhà phát hành tích tụ lại và thực hiện đầu tư vào các mục tiêu mở rộng sản xuất và kinh doanh, còn các NĐT sẽ nhận được các quyền và lợi ích là khoản thanh toán của chủ thể phát hành. Vậy trên phương diện kinh tế, chứng khoán được hiểu là công cụ tài chính và là công cụ huy động vốn trên thị trường. Ở phương diện pháp luật, việc định nghĩa chứng khoán có thể khác nhau ở các quốc gia tùy vào mục đích khi điều chỉnh loại tài sản này.
Theo Luật Chứng khoán Trung Quốc, mặc dù không đưa ra quy định thế nào là chứng khoán song Điều 2 luật này quy định về phạm vi điều chỉnh của luật chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác được công nhận hợp pháp trên lãnh thổ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Điều 1 Luật Chứng khoán Hoa Kỳ năm 1933 không xác định thế nào được coi là chứng khoán mà xác định các trường hợp sẽ không được coi là chứng khoán. Luật Chứng khoán Malaysia quy định chứng khoán có nghĩa là cổ phiếu, trái phiếu của chính phủ hoặc doanh nghiệp; 1 Học viện Ngân Hàng (2017), Giáo trình thị trường chứng khoán, NXB Khoa học xã hội, tr.26 6 chứng chỉ quỹ đầu tư hoặc quỹ tín thác2. Pháp luật Việt Nam hiện nay cũng không chỉ ra một định nghĩa cụ thể về chứng khoán mà sử dụng phương pháp liệt kê các loại chứng khoán.
Theo đó, chứng khoán là một loại tài sản, bao gồm các loại như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng quyền. Có thể thấy, xu hướng của pháp luật các quốc gia là không giải thích những nội hàm cụ thể của chứng khoán mà sử dụng phương pháp liệt kê để định nghĩa cho loại tài sản này. Vì vậy, ở góc độ pháp luật chứng khoán có thể được coi là một loại tài sản với đầy đủ các đặc tính của một loại tài sản thông thường, được thể hiện dưới dạng chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử và là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Đặc điểm của chứng khoán Thứ nhất, chứng khoán có tính sinh lời.
Đặc điểm này là mục đích chính của các NĐT khi tham gia vào thị trường chứng khoán thể hiện ở việc chủ thể phát hành phải thanh toán một khoản lợi tức trong tương lai (với chứng khoán vốn) hoặc chi trả lãi suất (với chứng khoán nợ) cho NĐT nắm giữ chứng khoán. Tính sinh lời còn thể hiện qua việc khi các NĐT giao dịch chứng khoán như một loại tài sản trên thị trường GDCK bằng việc mua bán các loại chứng khoán này và nhận một khoản lợi từ chênh lệch giá mua bán chứng khoán. Thứ hai, chứng khoán có tính thanh khoản. Có thể hiểu đơn giản tính thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền của một loại tài sản.
Đặc điểm này tạo cơ hội cho người nắm giữ chứng khoán có thể mua bán chứng khoán trên thị trường GDCK để chuyển đổi thành tiền, thỏa mãn nhu cầu của nhà đầu tư đồng thời hạn chế rủi ro làm giảm sút giá trị của chứng khoán. Thứ ba, chứng khoán có tính rủi ro. Bất kỳ hoạt động đầu tư nào cũng đều có tính rủi ro, rủi ro luôn đi kèm và ảnh hưởng chặt chẽ tới khả năng sinh lời. Rủi ro của chứng khoán nằm ở việc đây là loại công cụ tài chính đầu tư ở hiện tại và kỳ vọng thu được lợi ích trong tương lai và khoảng thời gian đó chính là khoảng thời gian chứa đựng những rủi ro tiềm tàng, những rủi ro bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn như tác động từ nền kinh tế, biến động chính trị, xã hội và còn bị tác động bởi tổ chức phát hành mà NĐT đang nắm giữ chứng khoán.
2 Bộ Tài Chính (2019), Bản nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, nguồn: https://phapluatdansu.vn/wp- content/uploads/2019/03/Kinh-nghiem-quoc-te-ve-Luat-chung-khoan.pdf truy cập ngày 23/04/2024. Phân loại chứng khoán Việc phân loại chứng khoán là nhằm mục đích xác định rõ các quyền và lợi ích của NĐT khi nắm giữ các loại chứng khoán này. Chẳng hạn, trong trường hợp tổ chức phát hành giải thể hoặc phá sản những NĐT nắm giữ chứng khoán nợ sẽ được ưu tiên thanh toán trước các chứng khoán vốn. Đây cũng là căn cứ xác định giá trị và độ uy tín của từng loại chứng khoán.
Chứng khoán có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, nhưng chủ yếu được phân loại dựa vào các tiêu chí sau: Căn cứ vào chủ thể phát hành chứng khoán, chứng khoán được phân loại thành: Chứng khoán của Nhà nước và chứng khoán của doanh nghiệp. Chứng khoán của Nhà nước là chứng khoán do Chính phủ thông qua Bộ Tài chính và chính quyền địa phương thông qua Ủy ban nhân dân phát hành nhằm huy động vốn bổ sung vào NSNN hoặc để thực hiện đầu tư vào dự án. Chứng khoán của doanh nghiệp là chứng khoán do các doanh nghiệp mà theo quy định của Luật Doanh nghiệp được phép phát hành chứng khoán để huy động vốn nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc mục đích tái cơ cấu doanh nghiệp. Căn cứ vào quyền của chủ sở hữu chứng khoán trong mối quan hệ với chủ thể phát hành chứng khoán được phân loại thành chứng khoán vốn và chứng khoán nợ.
Chứng khoán vốn tồn tại dưới hai dạng cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư, là loại chứng khoán xác nhận sự góp vốn và các quyền liên quan đến phần vốn góp của người nắm giữ chứng khoán đối với chủ thể phát hành ra nó. Loại chứng khoán này không xác định được thời gian thu hồi vốn, mức lợi tức thu được phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của chủ thể phát hành tuy nhiên nắm giữ chứng khoán vốn nhà đầu tư có thể tham gia vào quản lý các hoạt động kinh doanh của chủ thể phát hành. Chứng khoán nợ tồn tại dưới dạng trái phiếu, theo đó người nắm giữ trái phiếu sẽ trở thành chủ nợ của nhà phát hành ra trái phiếu, chủ thể phát hành cam kết hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian xác định. Bản chất là một hợp đồng vay nên NĐT được trả lãi suất cố định mà không phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành.
Căn cứ vào khả năng xác định người sở hữu, có thể được phân loại thành chứng khoán ghi danh và chứng khoán không ghi danh. Chứng khoán ghi danh là loại chứng khoán mà người được ghi tên trên chứng khoán chính là chủ sở hữu của 8 chứng khoán và việc chuyển nhượng chứng khoán này khá phức tạp, phải được thực hiện theo thủ tục được pháp luật quy định. Chứng khoán không ghi danh là chứng khoán không ghi tên chủ sở hữu chứng khoán, chủ sở hữu chứng khoán chính là những chủ thể nắm giữ chứng khoán một cách hợp pháp, việc chuyển nhượng các chứng khoán này đơn giản hơn so với chứng khoán ghi danh. Căn cứ vào tiêu chí niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung, chứng khoán được phân loại thành: Chứng khoán niêm yết và chứng khoán chưa niêm yết.
Chứng khoán niêm yết là những chứng khoán đảm bảo các yêu cầu được pháp luật quy định về chủ thể phát hành, có thể coi đây là loại hàng hóa có chất lượng cao và được giao dịch trên hệ thống giao dịch chứng khoán niêm yết HOSE và HNX. Chứng khoán chưa niêm yết là các chứng khoán chưa đạt các yêu cầu luật định và được giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán chưa niêm yết UPCOM 3. Khái niệm thị trường chứng khoán a. Định nghĩa thị trường chứng khoán Trong nền kinh tế, mọi chính sách phát triển đều phải tuân theo quy luật của thị trường tài chính, thông qua thị trường tài chính nhà nước điều tiết nền kinh tế và tiến hành các hoạt động nhằm ổn định nền kinh tế.
TTTC là nơi trao đổi các công cụ tài chính, các bộ phận cấu thành nên TTTC bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Trong đó TTCK là một bộ phận của thị trường vốn và là nơi trao đổi mua bán các loại hình chứng khoán giữa các chủ thể tham gia4. Xét về bản chất hoạt động của thị trường chứng khoán thì TTCK là một kênh huy động vốn của các chủ thể phát hành, giải quyết mâu thuẫn cơ bản về phân phối nguồn vốn, nguồn vốn được luân chuyển từ nguồn vốn tiết kiệm hay tạm thời nhàn rỗi của chủ thể này qua các chủ thể khác cần vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh và là nơi trao đổi mua bán các công cụ tài chính của thị trường vốn. Trong nền kinh tế thị trường, TTCK đóng một vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp, các NĐT trên thị trường mà còn tác động lên toàn bộ nền kinh tế: 3 UPCOM được thành lập năm 2009, là sàn giao dịch chứng khoán dành cho các công ty chưa niêm yết.
Khi chứng khoán của các công ty chưa được đăng ký niêm yết hoặc chưa đủ điều kiện niêm yết tại sàn HOSE và sàn HNX thì sẽ được giao dịch tại sàn UPCOM. 4 Học viện Ngân Hàng (2017), Giáo trình thị trường chứng khoán, NXB Khoa học xã hội, tr.19 9 Thứ nhất, thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn trung và dài hạn với chi phí thấp hơn chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi huy động vốn bằng việc xin cấp tín dụng tại ngân hàng.