Lời mở đầu để tái hiện bức tranh toàn cảnh về tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài Luận văn; (ii) Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đƣợc sử dụng ở Chƣơng 1 nhằm làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của quyền tiếp cận công lý; (iii) Phƣơng pháp thống kê, phân tích tài liệu đƣợc sử dụng ở Chƣơng 2 để thấy rõ những ƣu điểm và các hạn chế, bất cập của pháp luật về quyền tiếp cận công lý cũng nhƣ việc thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay; (iv) Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp đƣợc sử dụng trong Chƣơng 3 để đảm bảo tính thuyết phục trong các lập luận. Ngoài ra, phƣơng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp của triết học Mác – Lênin đƣợc sử dụng ở tất cả các chƣơng để rút ra các kết luận khoa học của luận văn. Tính mới và những đóng góp của đề tài Luận văn có những đóng góp và điểm mới sau: Một là, luận văn sẽ trình bày và phân tích các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “quyền tiếp cận công lý”, sự hình thành và phát triển trong nhận thức về tiếp cận công lý ở Việt Nam và trên thế giới. Trên cơ sở đó, đƣa ra một định nghĩa tổng quát, phù hợp với phạm vi, thời điểm và mục đích nghiên cứu của luận văn, đó là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, luận văn phân tích các đặc điểm của pháp luật về quyền tiếp cận công lý, nội dung của pháp luật về quyền tiếp cận công lý đồng thời làm rõ vai trò của pháp luật vê quyền tiếp cận công lý. Ngoài các vai trò nhƣ pháp luật chung, pháp luật về quyền tiếp cận công lý chính là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền làm chủ của ngƣời đối với những quyền con ngƣời, quyền cơ bản khác của công dân, bởi lẽ chỉ khi có quyền này, các quyền khác mới đƣợc bảo vệ. Ba là, luận văn xây dựng hệ thống tiêu chí hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam. Cùng với các tiêu chí chung của việc hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý để đảm bảo tính toàn diện, tính đồng bộ, tính thống nhất; phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam và xu thế hội nhập quốc tế; luận văn cũng đề xuất các tiêu chí riêng của việc hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý nhằm khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của quyền tiếp cận công lý đối với việc đảm bảo các quyền cơ bản khác của con ngƣời, đảm bảo xây dựng một nền dân chủ thực chất, một Nhà nƣớc pháp quyền thật sự của dân, do dân và vì dân.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bốn là, Luận văn gợi mở các vấn đề cần tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, các vấn đề phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và truyền thống văn hoá lịch sử văn hoá Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu pháp luật về quyền tiếp cận công lý nƣớc ngoài, đặc biệt là các văn kiện quốc tế quy định về quyền tiếp cận công lý và các văn kiện khuyến nghị của các tổ chức nhân quyền quốc tế. Năm là, luận văn đã khái quát hoá sự phát triển của pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam qua các giai đoạn cụ thể. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quyền tiếp cận công lý cũng nhƣ thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay, xác định rõ ƣu điểm và các hạn chế, bất cập đồng thời chỉ rõ nguyên nhân của các hạn chế, bất cập làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam. Sáu là, luận văn đã đƣa ra hệ thống các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay.
Các nhóm giải pháp cơ bản đó là: (i) Sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành về quyền tiếp cận công lý; (ii) Tăng cƣờng các điều kiện bảo đảm cho việc hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý; (iii) Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền tiếp cận công lý. Các nhóm giải pháp đƣợc đề xuất đều hƣớng đến mục tiêu trọng tâm hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ, thống nhất, minh bạch với kỹ thuật pháp lý cao theo hƣớng chuẩn hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế. Kết cấu của luận văn Luận văn bao gồm 03 Chƣơng, 11 tiết. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.
KHÁI NIỆM CÔNG LÝ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÔNG LÝ VÀ PHÁP LUẬT 1.1 Khái niệm công lý Trong nền khoa học pháp lý thế giới, công lý (justice) là khái niệm có nội hàm rộng, tuỳ thuộc vào từng nền văn hoá và từng giai đoạn phát triển của xã hội trong lịch sử. Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học đã đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về công lý. Theo Plato, công lý là một khái niệm thể hiện phẩm hạnh và sự hài hoà của cộng đồng, là kết quả của sự đồng tâm hợp tác giữa những cá nhân có đức hạnh tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng và quốc gia. Công lý xuất phát từ sự hài hoà và nó hƣớng tới những ngƣời khác thông qua những hành vi nhân hậu và tử tế [59].
Còn theo Aristotle thì công lý là việc đối xử bình đẳng với những ngƣời ngang nhau và bất bình đẳng với những ngƣời không ngang hàng, tƣơng xứng với sự khác nhau về địa vị của họ. Theo ông, công lý đƣợc chia thành “công lý cải tạo” - nơi mà toà án sửa chữa lỗi lầm do một bên phạm phải đối với bên khác và “công lý phân phối” - cách thức, nỗ lực cố gắng để công bằng với mỗi ngƣời, đúng theo những gì mà ngƣời đó xứng đáng. Theo Aristotle, công lý phân phối chính là mối quan tâm chủ yếu, hàng đầu của các nhà lập pháp [58]. Cicero, nhà lý luận chính trị La Mã lại cho rằng công lý là một phẩm hạnh quan trọng nhằm giữ xã hội thắt chặt bên nhau, nó cho phép chúng ta theo đuổi những điều tốt đẹp chung vì sự tồn tại của xã hội.
Theo ông, chức năng đầu tiên của công lý là giữ cho mỗi ngƣời khỏi làm những điều ác, có hại cho ngƣời khác. Augustine, nhà triết học có ảnh hƣởng lớn đầu tiên thời trung cổ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lại cho rằng công lý cao hơn nhà nƣớc và là vĩnh cửu. Công lý tự nhiên cao hơn luật pháp. Luật pháp không công bằng thì không phải là luật pháp (Unjust laws are not laws).
Thomas Aquinas, nhà triết học và thần học Italia trong truyền thống kinh viện chủ nghĩa, cũng cho rằng một đạo luật công bằng là một đạo luật dựa trên và không đối lập với các quyền tự nhiên. Bất công chính là những hành vi liên quan đến việc vi phạm các quyền tự nhiên nhƣ các tội giết ngƣời, hành hung, trộm cắp, bắt cóc, nô lệ, hiếp dâm, gian lận hoặc các hành vi gây ảnh hƣởng sai lệch nhất định đến sự phân phối thịnh vƣợng, thu nhập. Những lý luận về tự do và công lý này đã tiếp tục đƣợc phát triển trong trào lƣu tƣ tƣởng Ánh sáng từ giữa thế kỷ XVIII với các đại biểu ƣu tú nhƣ Montesquieu (1689-1755), Voltaire (1694-1778), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Thomas Jefferson (1743-1826),… [60]. Không chỉ trong lĩnh vực triết học, ngay từ thời kỳ cổ đại, công lý đã đƣợc coi là vấn đề quan trọng đối với các nhà làm luật.
Bộ luật Hammurabi, bộ luật thành văn cổ xƣa nhất của nhân loại (ra đời khoảng từ 1792 - 1750 TCN) đã coi công lý và chính nghĩa là cơ sở của nền cai trị nhân từ, công bằng nhằm đem lại sự thái bình và hạnh phúc chân chính cho ngƣời dân [38]. Với tuyên bố “Công lý bùng nổ để bảo vệ kẻ yếu”, bộ luật Hammurabi đã áp dụng triệt để nguyên tắc báo thù Talion, theo đó kẻ phạm tội sẽ phải chịu hình phạt ngang bằng với thiệt hại đã gây ra. Tuy nhiên, cách hiểu về công lý này có phần cực đoan. Quan niệm về công lý cũng thay đổi theo truyền thống văn hóa của nơi đó.
Tại phƣơng Tây, công lý đã xuất hiện nhƣ một khát vọng về tự do, công bằng, chính nghĩa. Ƣớc nguyện về những giá trị công lý chân chính trong thời kỳ này đƣợc khắc hoạ rõ nét tại nhiều tác phẩm nổi tiếng nhƣ hình ảnh nữ thần công lý Thémis trong thần thoại Hy Lạp [29] hay hình tƣợng bất hạnh của nàng Antigone trong vở kịch Antigone của kịch gia Sophocle (496-406 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TCN), nàng đã vì tình thƣơng, lẽ phải và đạo lý đã chống lại đạo luật cƣờng quyền của vua Creon [15]. Theo quan niệm của ngƣời châu Phi, công lý là sự ứng xử phù hợp với truyền thống của tiền nhân. Ở Ấn Độ, ngƣời Hindous coi công lý là sự tôn trọng và chấp nhận trật tự, đẳng cấp trong xã hội.
Đến thời kỳ hiện đại, khái niệm công lý dần mang tính thực tiễn hơn. Dựa trên luận đề căn bản “Công lý là công bằng” (Justice as fairness), John Rawls (1921 - 2002) - một trong những triết gia Tây phƣơng về Triết học chính trị hàng đầu của thế kỷ 20 trong tác phẩm “Học thuyết công bằng” (1971) đã viết rằng: Công lý là đức hạnh thứ nhất cho các định chế xã hội cũng như chân lý là của các hệ thống tư tưởng. Một lý thuyết dù có lộng lẫy đến đâu nhưng nếu nó sai thì phải bị bác bỏ cũng như luât pháp và định chế có hoàn chỉnh đến đâu cũng cần phải dẹp bỏ nếu nó là bất công. Cũng theo Jonl Rawls, công lý là sự công bằng và công lý chính là chuẩn mực của một xã hội lý tƣởng.
Chuẩn mực của công bằng trong một thể chế xã hội cụ thể chính là nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ cho mỗi cá nhân. Theo ông, công bằng chỉ có đƣợc khi con ngƣời tự nguyện cùng tham dự vào quá trình hợp tác xã hội để làm sao mỗi cá nhân giành đƣợc lợi ích nhiều hơn so với khi họ sống đơn lẻ.