Chương 1: TỔNG QUAN VỀ M&A 1. Khái niệm M&A Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hoạt động M&A ngày càng trở nên phổ biến. Các hoạt động M&A được tiến hành dưới nhiều cách thức và mục đích khác nhau. M&A là hoạt động kinh tế tăng trưởng mạnh từ lâu nay trên thế giới.
Ở Việt Nam, hoạt động này bắt đầu chưa lâu song ngày càng sôi động và hứa hẹn một sự bùng nổ trong thời gian tới. M&A, được viết tắt bởi hai từ tiếng Anh: Mergers and Acquisitions được dịch là “sáp nhập và mua lại” hoặc “sáp nhập và thâu tóm”. Đây là thuật ngữ để chỉ sự mua bán, sáp nhập, hợp nhất, mua cổ phần, mua tài sản giữa hai hay nhiều công ty với nhau. Các vụ sáp nhập, mua lại hiện nay đã trở thành một hình thức đầu tư thông dụng của các công ty muốn bảo vệ, củng cố và thúc đẩy vị trí của mình bằng cách sáp nhập, mua lại công ty khác từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh của mình.
Các nhà đầu tư nước ngoài cũng thường lựa chọn hình thức M&A thực hiện việc đầu tư tại các nước nhằm tránh các thủ tục thành lập doanh nghiệp của nước đó. Mặc dù thuật ngữ “M&A” được sử dụng rất thông dụng ở nhiều nước trên thế giới nhưng các nước chưa có sự thống nhất một định nghĩa pháp lý chung đối với thuật ngữ này. Ở mỗi nước, có một hệ thống pháp luật khác nhau, một cách hiểu khác nhau về M&A. Sau đây, tác giả xin trình bày một số khái niệm về M&A ở một số quốc gia, một số nhà khoa học và khái niệm M&A trong các quy định của Việt Nam.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Định nghĩa theo quy định pháp luật của một số nước 1. Hoa kỳ Hoa Kỳ là quốc gia Liên bang nên tồn tại hai hệ thống pháp luật là pháp luật liên bang và pháp luật của từng bang. Do đó, hoạt động M&A chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật là pháp luật liên bang và pháp luật của từng bang.
Theo pháp luật liên bang, sáp nhập có nghĩa là sự kết hợp giữa hai công ty mà một bên hoàn toàn bị thâu tóm bởi công ty kia. Công ty kém quan trọng hơn sẽ mất đi đặc điểm nhận diện của mình và trở thành một phần của công ty quan trọng hơn nơi vẫn giữ được đặc điểm nhận diện của mình. Hoạt động sáp nhập làm lu mờ công ty bị sáp nhập và công ty được sáp nhập sẽ nắm giữ các quyền, lợi ích và trách nhiệm của công ty bị sáp nhập. Một hoạt động sáp nhập không giống với hoạt động hợp nhất mà hai công ty cùng bị mất đi những đặc điểm nhận dạng của mình và tạo nên một hình thức công ty hoàn toàn mới.
Pháp luật của liên bang và của từng bang đều điều chỉnh hoạt động M&A nhằm hạn chế hoạt động sáp nhập có thể triệt tiêu cạnh tranh giữa các công ty sáp nhập. Luật Chống Tập trung kinh tế (Anti-Trust Act) (hay còn gọi là Luật Chống Tờ Rớt) giới hạn các giao dịch có thể tạo mà không khuyến khích sự cạnh tranh. Luật Chống Tập trung kinh tế của Liên bang bao gồm Luật Chống Tập trung kinh tế Sherman (Sherman Anti-Trust Act) được ban hành vào năm 1890, Luật Clayton 1914 đã bổ sung Luâ ̣t Sherman thêm bố n hành vi : cấ m phân biê ̣t đố i xử về giá , cấ m ký kế t hơ ̣p đồ ng mang tính đô ̣c quyề n hoă ̣c có nô ̣i dung ràng buô ̣c; cấ m viê ̣c chiế m vố n giữa các công ty; cấ m kiêm nhiê ̣m chức vu ̣ ) giữa công ty. Vì Hoa Kỳ theo hệ thống luật án lệ nên việc áp dụng những quy định pháp luật này còn được điều chỉnh bằng những giải thích của tòa án.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Cộng đồng chung Châu Âu Cộng đồng Châu Âu đã có một định nghĩa cụ thể về sáp nhập và mua lại tại Quy định về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu số 139/2004 ngày 20/01/2004 (EC Merger Regulation) như sau: (i) sự sáp nhập giữa hai pháp nhân độc lập hoặc hai bộ phận của hai pháp nhân; hoặc (ii) thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc mua lại chứng khoán hoặc tài sản của một công ty khác; (iii) hoặc tạo ra một liên doanh mới. Quy định về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu đã đưa ra cách tính về doanh số, thủ tục cần thiết để tiến hành việc sáp nhập và mua lại một cách cụ thể. Mặc dù hệ thống pháp luật của từng quốc gia thuộc thành viên của Cộng đồng chung Châu Âu là khác nhau, nhưng Quy chế về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu được áp dụng chung và là văn bản có hiệu lực điều chỉnh cao hơn pháp luật của từng quốc gia phê chuẩn. Singapore Hoạt động sáp nhập mua lại tại Singapore được điều chỉnh bằng Luật Cạnh tranh Singapore 2004 (Competition Act) [12].
Luật này được đánh giá là học tập mô hình các quy định pháp lý về cạnh tranh của Cộng đồng Châu Âu và Luật Cạnh tranh của Anh Quốc 1998. Theo Luật Cạnh tranh của Singapore, hoạt động sáp nhập xảy ra khi: (a) có từ hai pháp nhân độc lập trở lên sáp nhập với nhau; (b) một hoặc nhiều thực thể hoặc các pháp nhân thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hay toàn bộ một hoặc nhiều pháp nhân khác; hoặc (c) một pháp nhân thâu tóm tài sản (bao gồm các quyền về tài sản) của pháp nhân khác (hoặc bộ phận cấu thành của pháp nhân đó) với mục đích pháp nhân đầu tiên được đặt tại vị trí thay thế toàn bộ hoặc gần như thay thế pháp nhân thứ hai trong kinh doanh tại những công việc đã được giao kết trước khi thâu tóm [12]. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mô hình liên doanh cũng nằm trong phạm vi khái niệm của sáp nhập theo Luật Cạnh tranh Singapore [12]. Canada Theo Điều 91 Luật Cạnh tranh Canada (Bản sửa đổi bổ sung năm 1985), sáp nhập được hiểu là việc mua hoặc thiết lập, trực tiếp hay gián tiếp, bởi một hay nhiều người, bằng cách mua hay thuê mua cổ phần hoặc tài sản, sự kiểm soát đối với toàn bộ hay một phần của hoạt động kinh doanh của một đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng hoặc một người nào khác bằng cách kết hợp hay liên kết hoặc hình thức khác [17].
Trung Quốc Khái niệm “sáp nhập” (merger) được điều chỉnh tại Luật Công ty của Trung Quốc. Sáp nhập được hiểu là các hoạt động mua lại một phần tài sản hoặc vốn của một công ty khác nhưng không bao gồm các hình thức tập trung kinh tế như mua lại, liên doanh, đối tác chiến lược, thỏa thuận liên kết… Khái niệm “sáp nhập” của Trung Quốc hoàn toàn không nằm trong phạm vi khái niệm “sáp nhập và mua lại” (M&A) của Hoa kỳ. Tại Điều 20(3) của Luật Cạnh tranh Không Bình đẳng (Unfair Competition Law) quy định tập trung kinh tế chỉ xuất hiện khi “một đơn vị kinh doanh thâu tóm quyền kiểm soát một (các) chủ thể kinh doanh hoặc có thể có những ảnh hưởng mang tính quyết định tới một đơn vị kinh doanh khác”. Điều 217 của Luật Công ty Trung Quốc quy định “một bên kiểm soát thực sự” là “bất kỳ ai không cần thiết phải là cổ đông nhưng có thể nắm giữ quyền kiểm soát đối với mọi hành vi của công ty bằng công cụ quan hệ, thỏa thuận đầu tư hay biện pháp nào khác [18].
Hoạt động sáp nhập và mua lại có yếu tố nước ngoài ở Trung Quốc còn được điều chỉnh bởi Quy chế tạm thời về Sáp nhập và Mua lại Doanh nghiệp trong nước của Nhà đầu tư nước ngoài có hiệu lực kể từ ngày 12/04/2004 và 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quy chế về Sáp nhập và Phân chia Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có hiệu lực kể từ ngày 22/11/2001. Nhật Bản Các quy định liên quan đến M&A các công ty ở Nhật Bản được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Công ty Nhật bản năm 2006 (Companies Act), Luật Chống Độc quyền Tư nhân và Tổ chức Hội chợ (Act on Prohibition of Private Monopolization and Maintenance of Fair Trade) năm 1947, Bộ luật Dân sự Nhật Bản (Civil Code) năm 1989, Luật Thương mại Nhật bản (Commercial Code) năm 1911 [14]. Luật Công ty của Nhật Bản chia việc sáp nhập thành hai loại: sáp nhập (hay còn gọi là “sáp nhập nuốt” (absorption-type merger)) và hợp nhất (hay còn gọi là “sáp nhập-hợp nhất”) (Consolidation-type Merger). Sáp nhập có nghĩa là một công ty sáp nhập với một công ty khác thì công ty tồn tại sẽ kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập (bị nuốt).
Còn hợp nhất là việc hai hay nhiều công ty hợp nhất lại với nhau và tạo thành một công ty mới. Công ty mới sẽ kế thừa toàn bộ mọi quyền và nghĩa vụ của các công ty bị hợp nhất. Để hạn chế tập trung kinh tế, Luật Chống độc quyền Tư nhân và Tổ chức Hội chợ, Điều 9 không cho phép việc thành lập một công ty mới mà công ty đó có thể có sự tập trung kinh tế. Định nghĩa của một số từ điển và chuyên gia 1.
Sherman trong cuốn Mergers and Acquisitions – from Ato Z đã định nghĩa M&A như sau: “Sáp nhập (Merger) là sự kết hợp giữa hai hay nhiều công ty mà qua đó tài sản và nghĩa vụ của công ty bán được chuyển giao sang công ty mua. Mặc dù có thể có sự thay đổi về cấu trúc tổ chức nhưng công ty mua vẫn giữ được 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bản sắc ban đầu sau cuộc sáp nhập. Thâu tóm/mua lại (acquisition) là việc mua lại một tài sản, ví dụ như một nhà máy, một chi nhánh hoặc thậm chí cả một công ty nhằm mở rộng thị trường và đa dạng hóa sản phẩm”[13]. Theo Invest Dictionary (Mỹ) “Sáp nhập và mua lại là một khái niệm chung chỉ sự kết hợp kết hợp giữa các công ty với nhau.
Sáp nhập (merger) là việc hai công ty nhập thành một công ty mới, còn thâu tóm (acquisition) để chỉ việc chuyển giao sở hữu một công ty sang một công ty khác mà không xuất hiện thêm công ty mới. Theo Small Business Dictionary (Mỹ) Một vụ sáp nhập (merger) xảy ra khi một công ty này nhận lãnh toàn bộ tài sản và nghĩa vụ nợ của công ty kia. Công ty mua lại vẫn giữ được địa vị của mình trong khi công ty bị mua lại chấm dứt sự tồn tại.