Tổng quan luận án
| Thông tin chung |
Nội dung chi tiết |
| Tên luận án |
Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam |
| Nghiên cứu sinh |
Ngô Mạnh Toan |
| Người hướng dẫn khoa học |
PGS. Hoàng Thị Kim Quế |
| Cơ sở đào tạo |
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội |
| Chuyên ngành |
Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật |
| Mã số chuyên ngành |
62.01 |
| Năm bảo vệ |
2007 |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận, giữ vị trí đặc biệt trong hệ thống các quyền con người và quyền công dân. Về bản chất, việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là phương thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, vừa mang tính chất tự vệ, phản kháng trước các hành vi vi phạm pháp luật khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, vừa là công cụ để công dân tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Thông qua hoạt động khiếu nại, tố cáo và xử lý khiếu nại, tố cáo, Nhà nước tiếp nhận các cảnh báo về khiếm khuyết của cơ chế, chính sách và sự bất cập trong hệ thống quản lý để kịp thời điều chỉnh.
Mặc dù Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004 và 2005) đã tạo cơ sở pháp lý cho công tác tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo, tình hình khiếu nại, tố cáo tại Việt Nam vẫn diễn biến phức tạp. Tình trạng khiếu nại gay gắt, kéo dài, khiếu nại vượt cấp, các đoàn đông người gây sức ép lên cơ quan công quyền và hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cấp có thẩm quyền diễn ra phổ biến. Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ sự thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, tính chắp vá và chồng chéo của các quy định pháp luật hiện hành; đặc biệt là quy định về cấp giải quyết khiếu nại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính độc lập, khách quan của quá trình giải quyết.
Trong bối cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật khiếu nại, tố cáo nói riêng trở thành đòi hỏi tất yếu khách quan. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu về sự kết hợp giữa lý luận Nhà nước pháp quyền với việc đổi mới toàn diện chế định pháp luật khiếu nại, tố cáo tại Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn thi hành pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, đưa ra các kiến nghị khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo và những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với pháp luật khiếu nại, tố cáo.
- Làm rõ quá trình hình thành và phát triển của pháp luật khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam từ khi thành lập nhà nước dân chủ nhân dân (năm 1945) đến nay.
- Đánh giá thực trạng pháp luật khiếu nại, tố cáo và tình hình thi hành pháp luật khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam hiện nay.
- Phân tích các yêu cầu khách quan và đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật khiếu nại, tố cáo đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật khiếu nại, tố cáo cùng hoạt động thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước gắn với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung phân tích Luật Khiếu nại, tố cáo (năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2004, 2005) và các văn bản hướng dẫn thi hành làm trọng tâm; đồng thời xem xét các quy định về khiếu nại, tố cáo trong một số văn bản luật chuyên ngành (đất đai, môi trường, thuế, chế độ công vụ). Về mặt nội dung, luận án tập trung chủ yếu vào khiếu nại hành chính và tố cáo hành chính trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, không đi sâu vào toàn bộ quy trình tố tụng tư pháp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài được tác giả phân loại thành hai nhóm chính:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1. Nhóm các công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Nhóm này tập trung làm sáng tỏ các giá trị phổ quát của Nhà nước pháp quyền và sự vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam từ sau những năm 1990:
- Bài viết tạp chí và chuyên khảo: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung (2001) với bài viết "Nhà nước pháp quyền - một hình thức tổ chức nhà nước"; GS. Đào Trí Úc (2001) với "Xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng"; PGS.TS. Hoàng Thị Kim Quế (2002) với "Nhận diện Nhà nước pháp quyền"; PGS.TS. Lê Minh Tâm (2002) với "Về tư tưởng Nhà nước pháp quyền và khái niệm Nhà nước pháp quyền"; TS. Lê Cảm (2002) với "Học thuyết Nhà nước pháp quyền, một vấn đề trong lịch sử hình thành và phát triển"; Tô Xuân Dân và Nguyễn Thanh Bình (2004) với "Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng"; GS.TS. Hoàng Văn Hảo (2004) với "Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa"; PGS. Trần Ngọc Đường (2004) với "Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật - Nhiệm vụ trọng tâm xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân"; PGS. Phạm Hồng Thái và Nguyễn Quốc Sửu (2005) với "Bàn về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta".
- Sách giáo trình và sách chuyên khảo: Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2005) với Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật; TS. Trần Hậu Thành (2005) với Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; GS. Đào Trí Úc (2005) với Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; GS. Đào Trí Úc chủ biên (2006) với Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Tài liệu tổng thuật quốc tế: Viện Thông tin khoa học xã hội (1991) với cuốn Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân; Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (2002) với cuốn Nhà nước pháp quyền.
2. Nhóm các công trình nghiên cứu về pháp luật khiếu nại, tố cáo
- Bài viết và đề tài nghiên cứu khoa học: Phạm Văn Khanh (1999) với bài viết "Những yêu cầu đặt ra trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về KNTC"; Thanh tra Nhà nước (nay là Thanh tra Chính phủ) với các đề tài NCKH: "Việc giải quyết khiếu nại của công dân trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước sau khi Toà án hành chính được thiết lập" (1996), "Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính" (2004), "Xây dựng quy trình nghiệp vụ giải quyết khiếu nại hành chính" (2004).
- Giáo trình và sách tham khảo: PGS. Lê Bình Vọng (1991) với Tìm hiểu Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân; Thanh tra Nhà nước (1991) với kỷ yếu Bác Hồ với Thanh tra; TS. Phạm Hồng Thái và TS. Đinh Văn Mậu (1996) với Giải đáp Luật hành chính Việt Nam; PGS.TS. Phạm Hồng Thái chủ biên (2003) với Tìm hiểu pháp luật về khiếu nại, tố cáo; Viện Khoa học Thanh tra (2004) với Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam; Khoa Luật – ĐHQGHN (2005) với Giáo trình Luật hành chính Việt Nam.
- Luận văn, luận án liên quan: Luận văn thạc sĩ của Lương Thanh Cường (2001) về hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo; Luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Long (2002) về pháp luật khiếu nại, tố cáo; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thế Thuấn (2001) về tăng cường hiệu lực pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo; Luận án tiến sĩ của Trần Văn Sơn (2006) về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án
Các công trình trước đây đa phần nghiên cứu độc lập từng mảng đề tài: hoặc nghiên cứu lý luận Nhà nước pháp quyền ở tầm vĩ mô, hoặc tiếp cận khiếu nại, tố cáo dưới góc độ pháp luật hành chính thực định và quy trình nghiệp vụ thuần túy. Luận án của NCS. Ngô Mạnh Toan là công trình ở cấp độ tiến sĩ luật học đầu tiên tích hợp nghiên cứu đồng thời hai vấn đề, xem xét hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trực tiếp từ các yêu cầu và tiêu chí của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Khung phân tích lý thuyết của tác giả dựa trên việc giải cấu trúc khái niệm và bản chất của quyền khiếu nại, quyền tố cáo dưới ba chiều kích:
- Phương diện xã hội: Phản ánh thái độ bất bình, nhu cầu tự vệ của cá nhân trước các vi phạm;
- Phương diện chính trị - pháp lý: Thể hiện quyền làm chủ, địa vị pháp lý của công dân và sự kiểm soát của xã hội đối với bộ máy công quyền;
- Phương diện quản lý: Đóng vai trò là kênh thông tin phản hồi thường trực về những sai sót, trục trặc của hệ thống hành chính.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc dạng nghiên cứu lý luận - định tính kết hợp phân tích văn bản pháp lý và tổng kết thực tiễn, sử dụng các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét các quy định pháp luật khiếu nại, tố cáo trong sự vận động, phát triển gắn liền với bối cảnh kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của đất nước qua từng thời kỳ lịch sử.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: Phân tích nội dung, cấu trúc các quy phạm pháp luật trong Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản luật chuyên ngành để chỉ ra mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý.
- Phương pháp hệ thống hóa: Phân nhóm các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh và cấu trúc các nhóm giải pháp.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Sử dụng dữ liệu báo cáo, tổng kết công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo để đánh giá mức độ khả thi của các quy định pháp luật.
- Phương pháp so sánh luật học: Khảo cứu kinh nghiệm pháp luật và mô hình giải quyết khiếu nại hành chính của một số quốc gia.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn: Thu thập thông tin thực tế từ cán bộ thực thi và người dân.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các văn kiện Đại hội Đảng (đặc biệt là Đại hội X); các bản Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992; các văn bản quy phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo qua các thời kỳ lịch sử (Sắc lệnh, Pháp lệnh năm 1981, Pháp lệnh năm 1991, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, 2004, 2005); các báo cáo tổng kết thực tiễn ngành Thanh tra và tài liệu chuyên khảo về Nhà nước pháp quyền.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Chương 1 thiết lập hệ thống khái niệm nền tảng và khung lý thuyết đánh giá. Tác giả phân tích cụ thể:
1. Phân định khái niệm khiếu nại, tố cáo:
- Khiếu nại: Là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luận án phân biệt khiếu nại hành chính với khiếu nại tư pháp và tranh chấp hợp đồng thương mại/dân sự (quan hệ bình đẳng).
- Tố cáo: Là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Luận án phân loại tố cáo thành: tố cáo hành chính, tố cáo vi phạm quy định cộng đồng và tố cáo tội phạm.
- So sánh quyền khiếu nại và quyền tố cáo:
| Tiêu chí |
Quyền khiếu nại |
Quyền tố cáo |
| Chủ thể thực hiện |
Công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức |
Cá nhân công dân (mang tính cá thể hóa cao) |
| Đối tượng hướng tới |
Quyết định hành chính, hành vi hành chính cụ thể đã ban hành/thực hiện xâm phạm quyền của mình |
Bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào (đã xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra) |
| Mục đích |
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính chủ thể khiếu nại |
Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, tập thể hoặc quyền của cá nhân khác; phòng ngừa tội phạm |
| Mối quan hệ với đối tượng bị tác động |
Bắt buộc có mối quan hệ quản lý - chấp hành từ trước giữa chủ thể và cơ quan bị khiếu nại |
Không bắt buộc phải có mối quan hệ quản lý từ trước giữa người tố cáo và người bị tố cáo |
Luận án cũng phân biệt rõ nhóm quyền khiếu nại, tố cáo với nhóm quyền yêu cầu, quyền kiến nghị và quyền phản ánh của công dân.
2. Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của pháp luật khiếu nại, tố cáo:
- Đối tượng điều chỉnh: Gồm 3 nhóm quan hệ xã hội:
- Quan hệ giữa người khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc (nhóm quan hệ chủ đạo);
- Quan hệ giữa cơ quan giải quyết với người bị khiếu nại, người bị tố cáo và các bên liên quan;
- Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Phương pháp điều chỉnh: Phương pháp quyền uy - phục tùng giữ vai trò chủ đạo; phương pháp thương lượng, đàm phán, đối thoại giữ vai trò hỗ trợ quan trọng trong việc giải quyết khiếu nại hành chính.
- Đặc điểm của pháp luật khiếu nại, tố cáo: Tính chủ đạo của các quy phạm thủ tục (trình tự, thời hạn, thẩm quyền thụ lý, xác minh).
3. Tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật khiếu nại, tố cáo:
Tác giả đề xuất hệ thống 5 tiêu chí khoa học:
- Tính toàn thiện, đầy đủ của hệ thống quy phạm;
- Tính đồng bộ, thống nhất trong nội tại hệ thống pháp luật;
- Tính phù hợp và khả thi trong thực tiễn;
- Tính ổn định và minh bạch của các quy định;
- Yếu tố kỹ thuật pháp lý (ngôn ngữ rõ ràng, chuẩn xác, dễ áp dụng).
4. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế: Khảo cứu cơ chế xử lý khiếu nại và các thiết chế tài phán hành chính, thanh tra nghị viện (Ombudsman) của một số quốc gia để rút ra bài học cho Việt Nam.
Chương 2. Sự hình thành phát triển và thực trạng của pháp luật khiếu nại, tố cáo Việt Nam
Chương 2 tổng kết tiến trình lịch sử và đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn pháp luật khiếu nại, tố cáo tại Việt Nam qua hai phần lớn:
1. Tiến trình hình thành và phát triển:
- Thời kỳ phong kiến: Tư tưởng pháp luật về khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện của nhân dân trong các triều đại phong kiến (cơ chế đánh chuông, đánh trống kêu oan, các quy định trong Quốc triều hình luật).
- Giai đoạn 1945 - 1980: Đặt nền móng với Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt; các sắc lệnh về tiếp dân, giải quyết khiếu nại của Chính phủ lâm thời; sự ghi nhận gián tiếp trong Hiến pháp 1946 và trực tiếp trong Hiến pháp 1959.
- Giai đoạn 1980 - 1992: Hiến pháp 1980 hiến định quyền khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản độc lập; ban hành Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 và Pháp lệnh năm 1991, từng bước hoàn thiện thẩm quyền và thủ tục giải quyết.
- Giai đoạn 1992 đến thời điểm nghiên cứu (2007): Hiến pháp 1992 khẳng định mạnh mẽ quyền công dân; ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, tiếp tục được sửa đổi, bổ sung vào năm 2004 và năm 2005 nhằm mở rộng thẩm quyền Tòa án hành chính và phân định trách nhiệm thanh tra, hành chính.
2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành:
- Ưu điểm: Hệ thống pháp luật đã từng bước bao quát các lĩnh vực quản lý nhà nước; xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên; phân định thẩm quyền theo cấp hành chính và bước đầu tiếp cận các chuẩn mực công khai, dân chủ.
- Hạn chế của quy định pháp luật:
- Còn mang tính chắp vá, nhiều quy định mâu thuẫn giữa Luật Khiếu nại, tố cáo với các luật chuyên ngành (đặc biệt là Luật Đất đai);
- Cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính nội bộ còn khép kín, cơ quan hành chính "vừa ban hành quyết định vừa giải quyết khiếu nại đối với chính quyết định đó", làm suy giảm tính độc lập và khách quan;
- Trình tự, thủ tục còn rườm rà, thời hạn giải quyết chưa hợp lý.
- Thực trạng thi hành:
- Tình hình khiếu nại, tố cáo gia tăng phức tạp, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực đất đai, đền bù, giải tỏa mặt bằng; xuất hiện các đoàn khiếu kiện đông người, vượt cấp kéo dài;
- Tồn tại hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giải quyết giữa các cấp chính quyền cơ sở và cơ quan chuyên môn; việc thi hành các quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận tố cáo đã có hiệu lực pháp luật đạt tỷ lệ thấp.
Chương 3. Những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện từ quan điểm chỉ đạo đến các phương án sửa đổi, bổ sung cụ thể:
1. Bốn quan điểm cơ bản chỉ đạo hoàn thiện:
- Pháp luật khiếu nại, tố cáo phải được hoàn thiện trên cơ sở xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;
- Hoàn thiện trên cơ sở tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;
- Hoàn thiện trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và đáp ứng yêu cầu thực tế của công tác giải quyết tranh chấp hành chính;
- Hoàn thiện trên cơ sở đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và các cam kết pháp lý quốc tế.
2. Năm nhóm giải pháp chung:
- Xác định rõ ràng, chuẩn xác địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật khiếu nại, tố cáo;
- Đơn giản hóa, minh bạch hóa và bảo đảm tính dễ thực hiện của quy trình, thủ tục giải quyết;
- Tăng cường cơ chế công khai, đối thoại trực tiếp giữa người giải quyết khiếu nại và người khiếu nại;
- Phân định rành mạch vai trò, vị trí của hệ thống chính trị cơ sở trong quản lý và thi hành pháp luật khiếu nại, tố cáo;
- Đảm bảo tính độc lập, khách quan trong hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính.
3. Các giải pháp và kiến nghị lập pháp cụ thể:
- Về chủ thể và thẩm quyền: Quy định chi tiết quyền tiếp cận hồ sơ, tài liệu vụ việc của người khiếu nại; quy định rõ trách nhiệm cá nhân của thủ trưởng cơ quan hành chính trong việc ban hành quyết định giải quyết sai trái.
- Về văn bản luật độc lập: Đề xuất ban hành Luật Tổ chức tiếp công dân nhằm chuyên nghiệp hóa công tác tiếp nhận thông tin, xử lý ban đầu các yêu cầu, phản ánh của người dân.
- Về kênh thông tin: Thiết lập kênh thông tin công khai, hướng dẫn, giải đáp pháp luật khiếu nại, tố cáo tại các cơ quan công quyền để hỗ trợ công dân.
- Về hỗ trợ tư pháp: Sửa đổi, bổ sung quy định nhằm nâng cao địa vị pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của luật sư trong toàn bộ quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính.
- Về thiết chế giải quyết: Nghiên cứu thành lập cơ quan/hội đồng giải quyết khiếu nại hành chính có tính chất độc lập tương đối với hệ thống cơ quan hành chính trực thuộc, từng bước chuyển trọng tâm giải quyết các bất đồng hành chính sang hệ thống Tòa án hành chính.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ nội hàm khái niệm khiếu nại, tố cáo, quyền khiếu nại, quyền tố cáo dưới ba giác độ: xã hội, chính trị - pháp lý và khoa học quản lý.
- Luận giải sâu sắc mối quan hệ hữu cơ giữa quyền khiếu nại, tố cáo với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Xây dựng hệ thống 5 tiêu chí khoa học đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật khiếu nại, tố cáo, tạo cơ sở lý luận cho công tác rà soát, đánh giá và lập pháp.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp
- Tổng kết toàn diện lịch sử phát triển của pháp luật khiếu nại, tố cáo Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2007, chỉ rõ các thành tựu và hạn chế mang tính hệ thống của Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi 2004, 2005).
- Đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể:
- Đề xuất kiến nghị ban hành Luật Tiếp công dân;
- Kiến nghị cơ chế luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi công dân trong khiếu nại hành chính;
- Đề xuất lộ trình đổi mới mô hình cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính theo hướng độc lập, khách quan, giảm dần tính chất giải quyết khép kín nội bộ trong cơ quan hành chính nhà nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào đối tượng khiếu nại hành chính và tố cáo hành chính trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. Mảng khiếu nại tư pháp, tố cáo tội phạm chỉ được đề cập ở góc độ so sánh, đối chiếu lý luận chứ không đi sâu vào thực tiễn tố tụng tư pháp.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về tách bạch độc lập thành hai đạo luật riêng biệt: Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo;
- Nghiên cứu chuyên sâu về mô hình thiết chế tài phán hành chính độc lập hoặc mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án hành chính đối với toàn bộ các quyết định hành chính, hành vi hành chính;
- Đánh giá tác động của công nghệ thông tin và cải cách thủ tục hành chính một cửa đối với quy trình thụ lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Giá trị tham khảo
| Nhóm đối tượng |
Giá trị sử dụng và nội dung tham khảo trọng tâm |
| Nghiên cứu sinh, Học viên cao học, Sinh viên luật |
Tham khảo khung lý luận về quyền con người, quyền công dân; phương pháp phân loại quan hệ xã hội trong khiếu nại, tố cáo; hệ thống 5 tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật. |
| Giảng viên giảng dạy luật học |
Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các môn học: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Luật Hành chính Việt Nam, Luật Tố tụng hành chính. |
| Cơ quan xây dựng pháp luật (Quốc hội, Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ) |
Cung cấp luận cứ khoa học cho việc soạn thảo, sửa đổi Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật Tiếp công dân; các luận điểm về cải cách thủ tục và bảo đảm tính độc lập của cơ quan giải quyết. |
| Cán bộ thanh tra, công chức tiếp dân và giải quyết khiếu nại |
Vận dụng các nguyên tắc về đối thoại, bảo đảm tính khách quan, sự tham gia của luật sư và phân định thẩm quyền thụ lý đơn thư trong hoạt động thực tiễn. |
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khiếu nại và tố cáo dựa trên những tiêu chí cơ bản nào?
Luận án chỉ ra sự khác biệt giữa khiếu nại và tố cáo qua 4 tiêu chí cơ bản:
- Chủ thể thực hiện: Chủ thể khiếu nại là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích trực tiếp bị tác động; chủ thể tố cáo chỉ có thể là cá nhân con người.
- Đối tượng hướng tới: Khiếu nại hướng vào quyết định hoặc hành vi hành chính cụ thể đã hiện diện tác động trực tiếp đến người khiếu nại; tố cáo hướng vào bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào (đã hoặc có nguy cơ xảy ra) bất luận có xâm hại trực tiếp đến người tố cáo hay không.
- Mục đích: Khiếu nại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình; tố cáo nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, xã hội, tập thể hoặc cá nhân khác và ngăn chặn hành vi vi phạm.
- Quan hệ pháp lý: Khiếu nại phát sinh trên cơ sở quan hệ quản lý - chấp hành có từ trước giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý; tố cáo không bắt buộc phải tồn tại mối liên hệ quản lý trước đó.
2. Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của pháp luật khiếu nại, tố cáo được xác định như thế nào?
- Đối tượng điều chỉnh: Gồm 3 nhóm quan hệ xã hội: (1) Quan hệ giữa người khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết (nhóm chủ đạo); (2) Quan hệ giữa cơ quan giải quyết với người bị khiếu nại, bị tố cáo và các bên liên quan; (3) Quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong quá trình giải quyết.
- Phương pháp điều chỉnh: Phương pháp quyền uy - phục tùng giữ vai trò chủ đạo; phương pháp thương lượng, đàm phán, đối thoại đóng vai trò hỗ trợ quan trọng trong giải quyết khiếu nại hành chính.
3. Hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật khiếu nại, tố cáo gồm những gì?
Tác giả xác lập 5 tiêu chí:
- Tính toàn thiện, đầy đủ của các quy định pháp luật;
- Tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật;
- Tính phù hợp, khả thi trong điều kiện thực tiễn kinh tế - xã hội;
- Tính ổn định và minh bạch của các chuẩn mực pháp lý;
- Yếu tố kỹ thuật pháp lý (ngôn ngữ, cấu trúc điều luật).
4. Lịch sử phát triển của pháp luật khiếu nại, tố cáo Việt Nam từ 1945 đến 2007 được chia thành các giai đoạn nào?
Luận án phân chia thành 3 giai đoạn chính:
- Giai đoạn 1945 - 1980: Đặt nền móng với Sắc lệnh 64/SL (1945), các sắc lệnh tiếp dân, quy định trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959.
- Giai đoạn 1980 - 1992: Hiến pháp 1980 hiến định quyền độc lập; ban hành Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo năm 1981 và Pháp lệnh năm 1991.
- Giai đoạn 1992 đến thời điểm nghiên cứu (2007): Hiến pháp 1992, ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2004 và năm 2005.
5. Luận án đề xuất giải pháp lập pháp cụ thể nào nhằm nâng cao tính độc lập trong giải quyết khiếu nại hành chính?
Luận án đề xuất:
- Ban hành riêng đạo luật về Luật Tổ chức tiếp công dân;
- Mở rộng phạm vi và ghi nhận rõ ràng địa vị pháp lý cho luật sư tham gia trợ giúp người khiếu nại trong quá trình giải quyết khiếu nại hành chính;
- Từng bước thành lập cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính có tính độc lập với cơ quan hành chính nhà nước để khắc phục tình trạng cơ quan quản lý vừa ban hành quyết định hành chính vừa giải quyết khiếu nại đối với chính quyết định đó.
Kết luận
Luận án "Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam" của NCS. Ngô Mạnh Toan là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật. Tác phẩm đã phân tích sâu sắc bản chất quyền khiếu nại, tố cáo dưới các góc độ xã hội, chính trị - pháp lý và khoa học quản lý, đồng thời thiết lập hệ thống tiêu chí khoa học để đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định. Qua việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam đến năm 2007, luận án đã đề xuất các giải pháp lập pháp mang tính cơ bản và đồng bộ, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.