Chương I: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học. Chương II: Thực trạng giáo dục đại học và pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. Chương III: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.
PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Khái niệm pháp luật về giáo dục đại học Pháp luật là hiện tƣợng của kiến trúc thƣợng tầng, vì vậy, một mặt nó chịu tác động mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng (điều kiện của đời sống kinh tế xã hội giữ vai trò quyết định đối với pháp luật), nhƣng mặt khác, pháp luật có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng. Về nguyên lý, pháp luật luôn phản trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, đồng thời pháp luật lại có giá trị bảo đảm và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Pháp luật có quan hệ gắn bó với Nhà nƣớc.
Nhà nƣớc không thể tồn tại thiếu pháp luật và ngƣợc lại pháp luật chỉ có thể phát huy đƣợc hiệu lực của mình nếu nó đƣợc bảo đảm bằng sức mạnh của bộ máy Nhà nƣớc “Ý chí đó nếu nó của Nhà nƣớc thì phải đƣợc biểu hiện dƣới hình thức một đạo luật do chính quyền đặt ra, nếu không thì hai tiếng ý chí chỉ là sự rung động không khí do những âm thanh trống rỗng gây nên” (V.Toàn tập, Tr. Ngƣợc lại, nếu không có một bộ máy nhà nƣớc, một cơ quan có đủ sức mạnh cƣỡng chế để bảo đảm cho pháp luật đƣợc tôn trọng thực hiện thì pháp luật cũng thể phát huy hiệu lực đƣợc. Chính vì lẽ đó, pháp luật luôn thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lực nhà nƣớc. Pháp luật là công cụ quan trọng để nhà nƣớc quản lý và điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Sự hình thành và phát triển của pháp luật luôn xuất phát từ nhu cầu xã hội và mục đích của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội. Vì vậy, khi tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội thay đổi thì pháp luật cũng phải có sự thay đổi tƣơng ứng. Tính phù hợp của pháp luật chỉ có đƣợc khi pháp luật phản ánh đúng những quy luật phát triển khách quan của xã hội và những điều kiện cụ thể của xã hội trong từng thời kỳ. Hệ thống pháp luật đƣợc hình thành và phát triển phù hợp với cơ cấu của các quan hệ xã hội, pháp luật là một khái niệm chung, có tính bao quát và rộng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hơn khái niệm luật, một khái niệm có tính cụ thể.
Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, định hƣớng và mục đích pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau, đƣợc phân định thành các ngành luật, các chế định pháp luật và đƣợc thể hiện trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành theo những hình thức, thủ tục luật định. Trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là công cụ cho sự phát triển của xã hội. Một khi Nhà nƣớc đƣợc xác định là nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân thì pháp luật là pháp luật của dân, do dân và vì dân. Pháp luật là cơ sở xây dựng “xã hội công dân” và trở thành một giá trị không thể thiếu trong một nhà nƣớc pháp quyền.
Điều kiện đầu tiên của pháp quyền là bảo đảm các quyền và tự do của công dân bằng các quy định ràng buộc, không ai đƣợc vi phạm, nhất là những quy định cho phép các chủ thể trong quá trình tham gia các giao dịch xã hội mà tự kiểm soát đƣợc mình, để ngăn chặn ngay những nguy cơ xâm phạm đến quyền lợi của các chủ thể khác. Trong nhà nƣớc pháp quyền, pháp luật là thƣớc đo (chuẩn mực) của tự do. Nhà nƣớc pháp quyền đƣợc xây dựng theo những nguyên tắc dân chủ. Các cơ quan quyền lực nhà nƣớc (lập pháp, hành pháp và tƣ pháp) đƣợc bầu cử một cách tự do với sự tham gia một cách trực tiếp của công dân để có thể thể hiện một cách đầy đủ nhất ý chí của họ.
Ý chí thể hiện trong pháp luật trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa phản ánh lợi ích và nguyện vọng của đông đảo nhân dân trong xã hội, vì nó đƣợc hình thành bằng con đƣờng dân chủ, do dân, vì dân ban hành và bảo đảm thực hiện và cũng do đó, pháp luật trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tính giai cấp đồng thời cũng có tính xã hội rộng rãi, phù hợp với các quy luật vận động khách quan và những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Nhà nƣớc ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp. Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật” (3, tr 131, 132).
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đảng đã khẳng định: “Nhà nƣớc ta là nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nƣớc là thống nhất có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nƣớc ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nƣớc theo pháp luật, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cƣơng” (5, tr 238).
Từ cuối năm 1986 đến nay, việc không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật là mối quan tâm lớn, thƣờng xuyên và là một trong những chủ trƣơng quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc, đƣợc ghi nhận trong hầu hết các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 8 (Khoá 7), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 3 (Khoá VIII), Nghị quyết Đại hội IX, Nghị quyết 08 Bộ Chính trị ngày 02/01/2002, Nghị quyết Đại hội X và Nghị quyết Đại hội XI. Thực hiện chủ trƣơng xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng, Quốc hội đang nỗ lực thực hiện chƣơng trình xây dựng pháp luật. Các luật và pháp lệnh đƣợc ban hành đã tạo môi trƣờng pháp lý, tăng cƣờng kỷ cƣơng, làm cho xã hội ngày càng ổn định và phát triển. Có thể nói rằng trong hai thập kỷ qua cùng với các chuyển biến của đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam đồng thời cũng diễn ra những chuyển biến sâu sắc trong lĩnh vực giáo dục.
Pháp luật về giáo dục và pháp luật về giáo dục đại học đã có những tác động tốt, tích cực đến quá trình phát triển xã hội kinh tế và trực tiếp trong lĩnh vực giáo dục và giáo dục đại học. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng hệ thống pháp luật về giáo dục và pháp luật về giáo dục đại học chƣa đầy đủ, cụ thể, đồng bộ và tác động của nó còn nhiều hạn chế trong quá trình phát triển giáo dục do thiếu những điều kiện, cơ chế, nguồn lực thực hiện. Luật giáo dục năm 1998, Luật giáo dục năm 2005, Luật dạy nghề năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điều của Luật giáo dục năm 2009 cùng với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật dƣới Luật đã tạo đƣợc một hành lang pháp lý cho việc phát triển giáo dục đại học. Từ năm 1998 đến năm 2011, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành đƣợc 89 văn bản quy định trực tiếp về thành lập trƣờng, đầu tƣ và bảo đảm chất lƣợng đào tạo trong giáo dục đại học.
Tốc độ ban hành văn bản ngày càng nhanh và chất lƣợng văn bản ngày càng cao. Giai đoạn 1998 – 2005 ban hành 24 văn bản (bình quân 03 văn bản/1 năm), giai đoạn 2006 - 2009 ban hành 31 văn bản (bình quân 7,8 văn bản/1 năm), gấp hơn 2,5 lần so với giai đoạn trƣớc. Từ năm 2010– 2011 ban hành đƣợc 34 văn bản. Có thể nói hai năm này đã ban hành đƣợc nhiều văn bản nhất về tổ chức và hoạt động của giáo dục đại học.
Đây cũng là năm triển khai thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học ngày 25 tháng 11 năm 2009; Nghị quyết số 50/2010/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2010 của Quốc hội về việc thực hiện chính sách pháp luật về thành lập trƣờng, đầu tƣ và bảo đảm chất lƣợng đào tạo đối với giáo dục đại học; Nghị quyết số 35/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội về chủ trƣơng, định hƣớng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 – 2011 định hƣớng đến năm học 2014 – 2015. Đặc biệt, một số văn bản quy định chi tiết Luật giáo dục 2005 cũng đã đƣợc ban hành, đó là văn bản quy định về dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số, quy định trƣờng của cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lƣợng vũ trang nhân dân, quy định chế độ phụ cấp thâm niên nhà giáo. Có thể khẳng định rằng, hiện nay hệ thống văn bản quy phạm cơ bản đã đảm bảo đƣợc tính phù hợp, thống nhất, đồng bộ và tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của nhà trƣờng. Tuy nhiên, hệ thống văn bản chủ yếu thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ và cấp Bộ, để điều chỉnh hoạt động giáo dục đại học thì đòi hỏi phải có văn bản có giá trị pháp lý cao thì hiệu lực và hiệu quả thực hiện mới đảm bảo.