Chương 1: Khái quát về giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài bằng Tòa án Việt Nam và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO. - Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài bằng Tòa án Việt Nam. - Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài bằng Tòa án Việt Nam, đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI BẰNG TÒA ÁN VIỆT NAM VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI CỦA WTO 1.1 Tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài và giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài 1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài Hoạt động thương mại diễn ra kể từ khi xuất hiện hàng hóa, con người bắt đầu tiến hành các trao đổi hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu của mình.
Những mâu thuẫn xuất phát từ việc sản xuất, trao đổi và thông thương hàng hoá cũng bắt đầu xuất hiện, đó là tranh chấp thương mại. Dưới khía cạnh pháp lý, tranh chấp là những xung đột, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật. Quan niệm về tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài trong mỗi giai đoạn có nhiều cách hiểu khác nhau. Các hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới cũng có những cách hiểu khác nhau.
Để hiểu rõ hơn về thế nào là tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, chúng ta cần phân tích rõ về hai khái niệm “tranh chấp thương mại” và “yếu tố nước ngoài”.1 Khái niệm tranh chấp thương mại Thời kỳ phong kiến, việc giải quyết các tranh chấp nói chung đều thông qua các quan lại thuộc chính quyền và chủ yếu trên cơ sở ý chí chủ quan của họ. Trong khi đó, các quan hệ thương mại không có luật điều chỉnh riêng mà nằm rải rác trong các luật dân sự. Vì vậy tranh chấp thương mại và tranh chấp dân sự không có sự phân biệt và đều là những tranh chấp về quyền và lợi ích của các bên khi tham gia vào quan hệ xã hội. Thời kỳ Pháp thuộc, quan niệm về thương mại theo quan niệm của Bộ luật Thương mại Pháp.
Thương mại tách biệt với dân sự nhưng chỉ là một dạng đặc thù của quan hệ dân sự. Các hành vi thương mại bao gồm 6 loại: 1/ mua tài sản để bán 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lại; 2/ các xí nghiệp sản xuất, chuyên chở những hãng thầu cung cấp vật liệu, những hãng bán đấu giá công khai; 3/ các nghiệp vụ hối đoái, ngân hàng, giao dịch chứng khoán, bảo hiểm; 4/ các nghiệp vụ trung gian, đại diện, đại lý thương mại; 5/ khai thác hầm mỏ và nguyên liệu; 6/ Giải trí công cộng: nhà hát, rạp chiếu phim, rạp xiếc. Còn theo Bộ luật Thương mại của Việt Nam cộng hòa, hành vi thương mại được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: 1/ các hành vi chế tạo, chế biến các sản phẩm kỹ nghệ; 2/ khai thác hầm mỏ và nguyên liệu; 3/ mua hàng để bán lại; 4/ thuê tài sản; 5/ các hoạt động vận chuyển, bảo hiểm, hối đoái ngân hàng, giao dịch chứng khoán, trung gian thương mại. Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung bao cấp, các tranh chấp liên quan đến hoạt động thương mại hay hoạt động kinh tế đều gọi là tranh chấp kinh tế hoặc tranh chấp kinh doanh với ý nghĩa là tất cả các hoạt động kinh tế thực hiện theo mô hình kế hoạch hóa tập trung trên cơ sở chỉ tiêu, kế hoạch của nhà nước.
Nguyên nhân là trong thời kỳ đó, chúng ta chịu ảnh hưởng của nền luật học Xô viết cùng với sự tồn tại của một ngành luật độc lập là ngành luật kinh tế. Trong thời kỳ mà hoạt động kinh tế chủ yếu là kế hoạch hóa tập trung với sự thống trị của khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sử dụng mệnh lệnh hành chính thì mọi hoạt động kinh tế chủ yếu do nhà nước thực hiện và chi phối. Kinh tế tư nhân, tư bản. không có điều kiện phát triển.
Các đơn vị kinh tế đều hoạt động thông qua kế hoạch và sử dụng hợp đồng kinh tế làm công cụ thực hiện kế hoạch được giao. Do đó, các tranh chấp kinh tế trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung đôi khi đồng nghĩa với tranh chấp hợp đồng kinh tế [19, tr13]. Bắt đầu từ khi có Luật Thương mại năm 1997, khái niệm thương mại đã được chính thức định nghĩa trở lại. Theo Luật Thương mại năm 1997, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh tế - xã hội (Điều 5 khoản 2).
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, thuật ngữ “kinh tế” hay “thương mại” đôi khi được sử dụng với nghĩa tương đương, thay thế cho nhau, không có sự phân biệt [27, tr33]. Hoạt động thương mại ngoài yếu tố cơ bản nhất là mục đích lợi nhuận nhưng vẫn nằm trong phạm vi “các chính sách kinh tế - xã hội”, nghĩa là một phần vẫn có tính chất quản lý và kế hoạch giống như đối với hoạt động kinh tế trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung. Tranh chấp thương mại theo Luật Thương mại năm 1997 là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại (Điều 238). Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 1997 đã thu hẹp phạm vi giải quyết tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng thương mại.
Trong khi đó, chỉ được coi là hợp đồng thương mại khi đó là hợp đồng ký giữa các thương nhân liên quan đến 14 hành vi thương mại theo quy định tại điều 45. Bên cạnh đó, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã quy định khá cứng nhắc và chặt chẽ về thế nào là một hợp đồng kinh tế đầy đủ. Với hai văn bản pháp luật cùng điều chỉnh về bản chất là hợp đồng kinh doanh, thương mại nhưng có nhiều quy định khác nhau nên việc giải quyết tranh chấp kinh tế hay thương mại trong thời kỳ này thường gây nhiều tranh cãi và các vụ án kinh tế thường kéo dài, không thuyết phục được các bên tham gia và gây nhiều thiệt hại không đáng có. Thực tế đã phát sinh nhiều vướng mắc về thời hiệu khởi kiện, về việc ủy quyền, về việc các chi nhánh nhân danh ký kết hợp đồng, về tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài.
Việc xét xử tranh chấp thương mại, nhất là các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài còn nhiều lúng túng. Trên thực tế, khái niệm tranh chấp thương mại được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và có nhiều tên gọi khác nhau: tranh chấp kinh tế, tranh chấp thương mại, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp về kinh doanh, thương mại. Các nhà nghiên cứu luôn cố gắng phân biệt sự khác nhau giữa tranh chấp kinh tế và tranh chấp kinh doanh. Nguyễn Thị Kim Vinh xác định “Trong các loại hình tranh chấp kinh tế, tranh chấp trong kinh doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó, trong 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một số trường hợp khái niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng với ý nghĩa tương đương với nhau” [27].
Có ý kiến cũng cho rằng: “Tranh chấp trong kinh doanh là một dạng của tranh chấp kinh tế, biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời” [9, tr10]. Sau khi Việt Nam ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ ngày 13/7/2000 và được Quốc hội phê chuẩn ngày 28/11/2001, quan niệm về thương mại và tranh chấp thương mại của chúng ta đã được mở rộng và mang bản chất của thương mại. Khái niệm thương mại bao gồm thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư [5, tr. Còn tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các bên trong một giao dịch thương mại (Điều 9.
Ngoài ra Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ còn phân biệt thêm về thương mại nhà nước. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam sửa đổi và ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật quan trọng sau này về thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại. Các quan niệm về thương mại như trong Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục được thể hiện trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, BLTTDS năm 2004 và Luật Thương mại năm 2005. Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”.
Quan niệm về thương mại trong BLTTDS lại được thể hiện bằng việc liệt kê các hành vi thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tại Điều 29. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoạt động thương mại được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 đã đưa bản chất của thương mại gần với thông lệ quốc tế hơn. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Điều 2 Luật Thương mại 2005). Các khái niệm về thương mại này đã loại bỏ yếu tố “chính sách kinh tế - xã hội” so với quy định trong Luật Thương mại năm 1997 và không bó hẹp phạm vi chủ thể là thương nhân, đồng thời gần hơn với các quan niệm về hoạt động thương mại của WTO và luật mẫu UNCITRAL.
Đặc biệt, lần đầu tiên, khái niệm thương mại được xác định nằm trong khái niệm dân sự theo nghĩa rộng.