Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG 1. Khái niệm công chứng Yêu cầu chứng nhận, xác nhận, làm chứng đã có từ lâu trong lịch sử. Các chế độ chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau thì tổ chức và hoạt động công chứng cũng được quy định khác nhau.
Một số tác giả nghiên cứu về công chứng cho rằng có hai loại hình thực hiện công chứng là tư chứng thư và công chứng thư'. Các tác giả đưa ra khái niệm ''công'' và "tư", giữa cá nhân tự do làm chứng với các chức danh được Nhà nước giao cho nhiệm vụ thực hiện hành vi công chứng hoặc Nhà nước trực tiếp thực hiện các việc công chứng [1], [65, tr. Vấn đề này được lý giải: - Tư chứng thư: Trong nhân dân ta tồn tại một truyền thống là mỗi khi có các giao dịch quan trọng đều phải nhờ những người có uy tín trong gia tộc, trong thôn xóm đứng ra làm chứng để xác nhận. Khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào hình thức chứng nhận trên để chứng minh sự thật, lấy đó làm cơ sở để giải quyết vụ việc tranh chấp.
Những văn tự được lập ra do các cá nhân công dân thực hiện và có người thứ ba làm chứng với tư cách cá nhân nên được gọi là "tư chứng thư" [40, tr. Đây là một dạng chứng nhận của bất kỳ một cá nhân nào, thực hiện một cách tự do, làm chứng không phải là nghề chuyên môn mà họ được giao, Nhà nước không những không cấm mà còn có phần khuyến khích nhân dân tham gia cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu. Hoạt động tư chứng thư là một hình thức hoạt động phong phú và đa dạng, dù ở giai đoạn lịch sử hay điều kiện xã hội nào cũng phải cần đến như một nhu cầu tất yếu cho xã hội. 9 - Công chứng thư (Nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền): Đây là hoạt động chứng nhận, chứng thực, xác nhận có tính chất công, phục vụ lợi ích công, do Nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, được gọi là công chứng.
Tổ chức công chứng và người thực hiện hành vi công chứng được Nhà nước công nhận, cho phép hoạt động nhằm bảo đảm tính xác thực trong hoạt động giao dịch và quan hệ khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức (thông qua công chứng nhà nước hoặc công chứng tư). Nhà nước ủy quyền thực hiện công chứng: Đây là thể chế công chứng của người La Mã. Được gọi là thể chế công chứng phỏng theo luật La Mã hay còn gọi là hệ thống công chứng La tinh (UINL) mà điển hình là công chứng của Cộng hòa Pháp. Theo thể chế này thì công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm (Tổng thống hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp).
Được Nhà nước ủy quyền thực hiện chức năng trong khuôn khổ một nghề tự do. Đặc điểm nổi bật của loại hình hoạt động này là công chứng viên người lập hợp đồng, là chuyên gia pháp lý tinh thông về nghiệp vụ, hoạt động bằng nguồn tài chính của riêng mình, tự quản và chịu trách nhiệm về mọi hành vi công chứng. công chứng viên là người được Nhà nước ủy quyền đem lại tính đích thực cho hoạt động của các bên và bảo đảm cho nó có hiệu lực thi hành [62, tr. Tương tự như loại hình này còn có một số quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Ăng-lô Sắc-xông quan niệm công chứng là một nghề tự do hoàn toàn, Nhà nước không thừa nhận thể chế công chứng [1], [25].
Nhà nước thực hiện công chứng: Đây là loại hình công chứng nhà nước, Nhà nước trực tiếp tổ chức và thực hiện công chứng chứ không ủy quyền cho tổ chức hay cá nhân thực hiện. Là mô hình công chứng được tổ chức chặt chẽ hoạt động chuyên nghiệp bằng kinh phí của Nhà nước. Tổ chức công chứng là cơ quan nhà nước nằm trong bộ máy hành pháp [67]. Theo quy định tại Nghị định 45/HĐBT Ngày 27/2/1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước thì khái 10 niệm công chứng nhà nước được hiểu như sau: Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ [29]. Sau 5 năm hoạt động, Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991) đã được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 31/CP (18/5/1996) của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Tại Điều 1 của Nghị định này cũng đưa ra khái niệm về công chứng: Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội. góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu [12]. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân, tổ chức về công chứng, ngày 08/12/2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực. Khác với Nghị định 31/CP/1996 (18/5/1996), Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) lần này xác định khái niệm công chứng và khái niệm chứng thực: Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng và giao dịch) và các việc khác theo quy định của nghị định này [13]. Như vậy, cả ba nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng đều xác định công chứng ở nước ta là Nhà nước thực hiện công chứng, nhưng chỉ đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, khái niệm công chứng mới được tách bạch 11 khỏi khái niệm chứng thực.
Khái niệm công chứng ở Nghị định này đã được xác định khoa học hơn, tiệm cận gần hơn với quan niệm chung của thế giới về công chứng. Tuy nhiên, khái niệm công chứng của Nghị định số 75/2000/NĐ- CP còn có một số điểm chưa phù hợp, đó là: hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực vẫn được đồng nhất cả về chủ thể, đối tượng và ý nghĩa pháp lý; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP lại xác định chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công chứng: “Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận.” đã làm “mờ” đi vai trò của công chứng viên trong hoạt động công chứng. Luật công chứng năm 2006 ra đời cùng với những quy định mới về công chứng. Theo quy định tại Điều 2 của Luật công chứng định nghĩa công chứng như sau: Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Định nghĩa nêu trên có thể hiểu: i) Công chứng là hành vi của Công chứng viên (phân biệt với hành vi chứng thực của người đại điện của cơ quan hành chính công quyền); ii) Tính xác thực của hợp đồng, giao dịch khác được Công chứng viên xác nhận. Sở dĩ pháp luật coi văn bản công chứng có giá trị chứng cứ là do tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó là có tính xác thực đã được Công chứng viên xác nhận. Tính xác thực này được Công chứng viên kiểm chứng và xác nhận ngay khi nó xảy ra trong thực tế, trong số đó có những tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau; iii) Tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác được Công chứng viên xác nhận. Về bản chất, hoạt động công chứng là một hoạt động mang tính công quyền của Nhà nước, công chứng là hoạt động được Nhà nước ủy quyền để chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các hợp đồng, giao 12 dịch.
Công chứng tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp hoặc khi có rủi ro, tranh chấp xảy ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào hình thức chứng nhận của công chứng để chứng minh sự thật, lấy đó làm cơ sở pháp lý để giải quyết vụ việc tranh chấp. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO và trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN, tăng cường tham gia các khu vực mậu dịch tự do trên thế giới thì nhu cầu công chứng càng trở nên bức thiết đối với người dân và doanh nghiệp. Xét trên góc độ xây dựng Nhà nước pháp quyền, xã hội công dân và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì công chứng vừa là công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, vừa là công cụ quản lý, vừa là công cụ hỗ trợ quan trọng cho các hoạt động tư pháp và là một trong những điều kiện cơ bản góp phần đẩy nhanh việc phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ.
Công chứng viên là người được Nhà nước bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước pháp luật và trước các bên tham gia giao dịch trong việc thực hiện việc công chứng các hợp đồng, giao dịch và phải chịu trách nhiệm pháp lý suốt đời đối với những giao dịch, hợp đồng mà mình chứng nhận [64]. Từ những vấn đề trên, có thể hiểu công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Văn bản công chứng có giá trị thực hiện và giá trị chứng cứ. Khái niệm pháp luật công chứng Pháp luật công chứng là một bộ phận của pháp luật xã hội chủ nghĩa.