Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam CN Kinh Bắc. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam CN Kinh Bắc. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái quát chung về hoạt động tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm về hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại Ngân hàng là tổ chức, thường là một doanh nghiệp, nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán chi phiếu, và thực hiện các dịch vụ có liên quan khác cho công chúng. Bộ luật Tổng Công ty Ngân hàng năm 1956 định nghĩa ngân hàng như là một định chế tài chính ký thác chấp nhận các tài khoản chi phiếu hay cho vay thương mại, và tiền gửi được bảo hiểm bởi cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang. Một ngân hàng hoạt động như là người trung gian giữa nhà cung cấp vốn và người sử dụng vốn, thay thế việc phân chia tín dụng cho nhà cung cấp vốn tốt nhất, thu tiền từ ba nguồn: các tài khoản séc, tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn; vay tiền ngắn hạn từ các ngân hàng khác; và vốn cổ phần. (Nguyễn Văn Công, 2013) Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
Nói cách khác, ngân hàng đóng vai trò là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoảng thời gian tồn tại của khoản vay. Theo HDBank, tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa bên cho vay là ngân hàng (hoặc tổ chức tín dụng hợp pháp) và bên đi vay là cá nhân hoặc doanh nghiệp có nhu cầu vay tiền. Khi đó, bên đi vay sẽ cung cấp một tài sản có giá trị thế chấp cho bên vay trong một thời hạn được thỏa thuận.
Sau thời gian vay mượn, bên vay có nghĩa vụ trả các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết ban đầu. Tóm lại, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng vừa giữa vai trò là người đi vay, vừa là người cho vay. Đặc điểm chung của hoạt động tín dụng Tín dụng ngân hàng có các đặc điểm sau: 7 -Có thể đáp ứng tối đa nhu cầu vốn của các khách hàng cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế, do có thể huy động nguồn vốn từ nhiều nguồn linh hoạt, phong phú -Thời hạn các loại hình cấp tín dụng linh hoạt theo nhu cầu của khách hàng như ngắn hạn, trung và dài hạn. Từ việc phân chia thời hạn này có thể giúp ngân hàng điều chỉnh, cân đối nguồn vốn theo thời hạn để có thể linh hoạt cấp cho khách hàng theo một quá trình luân chuyển vốn hợp lý -Tín dụng phải dựa theo nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi.
Giá trị hoàn trả tại thời điểm đáo hạn luôn lớn hơn mức cho vay để thể hiện phần chi phí sử dụng vốn của khách hàng đối với khoản vay. Khoản lãi thu về sẽ tạo ra thu nhập và bù đắp cho chi phí hoạt động cho ngân hàng, thể hiện bản chất kinh doanh của ngân hàng. -Là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi và luân chuyển vốn của ngân hàng, do việc đánh giá độ uy tín của khách hàng là tương đối phức tạp, khó khăn vì luôn tiềm ẩn những rủi ro thông tin bất cân xứng dẫn đến rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch. Ngoài ra, còn bị ảnh hưởng từ rất nhiều điều kiện khác của nền kinh tế như khủng hoảng, lạm phát, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh.
Vai trò của hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại a) Đối với nền kinh tế Tín dụng ngân hàng giúp tạo nên cầu nối gắn kết cung và cầu về vốn của nền kinh tế. Trong xã hội, luôn tồn tại những người đang thiếu vốn có nhu cầu đi vay và những người dư thừa vốn cần dùng nó để đầu tư, sinh lời. Và hoạt động tín dụng ngân hàng đã đáp ứng được các nhu cầu đó của họ, sẽ đứng ra làm trung gian huy động vốn và dùng nguồn vốn đó để cho các đơn vị, cá nhân, tổ chức đang thiếu hụt vốn. Tín dụng ngân hàng còn góp phần hỗ trợ, thúc đẩy và phát triển các chiến lược kinh tế, chính sách tiền tệ.
Qua chức năng quan trọng của NHTM đó là chức năng tạo tiền, vận hành cùng với hoạt động thanh toán và tín dụng. NHNN sẽ nhờ vào việc điều chỉnh lãi suất, các chính sách tiền tệ phù hợp để phát triển nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng còn góp phần mở rộng mối quan hệ giao lưu hội nhập kinh tế quốc tế. Thị trường tài chính nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng ngày càng được thúc đẩy, phát triển hơn trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Tạo điều kiện về 8 vốn thuận lợi cho các doanh nghiệp xâm nhập thị trường quốc tế qua các hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Đồng thời, mở ra nhiều cơ hội giúp các NHTM ở Việt Nam có thể liên kết, liên doanh với các ngân hàng nước ngoài, tăng cường sức mạnh, tối đa lợi nhuận và vị thế cạnh tranh (Nguyễn Văn Công, 2013) b) Đối với khách hàng Cung cấp đáp ứng kịp thời các nhu cầu về vốn của khách hàng để quá trình SXKD của khách hàng được diễn ra thuận lợi, liên tục. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với khách hàng, với ưu điểm linh hoạt về thời hạn vay, mục đích cũng như giá trị khoản vay giúp khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận và thoả mãn đa dạng nhu cầu về vốn của họ. Bên cạnh đó, còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Do đặc thù là hoàn trả gốc và lãi vô điều kiện khi đến hạn đã tạo nên ràng buộc đối với khách hàng. Điều đó đã tự khiến doanh nghiệp phải nỗ lực, tận dụng nguồn vốn đó sao cho hiệu quả, mang về kết quả kinh doanh tốt để có thể hoàn thành nghĩa vụ đối với ngân hàng. c) Đối với ngân hàng Là hoạt động quan trọng, chủ yếu tạo ra nguồn thu nhập, lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Hàng năm hoạt động cấp tín dụng đã đem lại nguồn thu nhập chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu, không những thế còn giúp quá trình luân chuyển vốn của ngân hàng được diễn ra trôi chảy.
Giúp tạo cầu nối liên kết giữa ngân hàng và các chủ thể kinh tế (cá nhân, doanh nghiệp). Từ việc cấp tín dụng, ngoài việc có thể tạo ra mối quan hệ hợp tác lâu dài, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn của các chủ thể mà còn giúp cho ngân hàng dễ dàng bán chéo các loại hình dịch vụ khác như huy động, bảo lãnh,. vừa giúp khách hàng tiếp cận thêm các sản phẩm vừa tăng nguồn thu cho ngân hàng. Quy trình cấp tín dụng của NHTM Để quá trình cấp tín dụng được diễn ra chính xác, hạn chế sai sót, đồng thời đem lại hiệu quả và hạn chế rủi ro thì việc có một quy trình chung các bước cấp tín dụng theo một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho 9 đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng là rất cần thiết.
Về cơ bản thì quy trình cấp tín dụng thường bao gồm 6 bước sau: Bước 1: Lập hồ sơ tín dụng Bước này sẽ giúp cung cấp các thông tin ban đầu về phục vụ cho quá trình phân tích sau này, là căn cứ để chứng tỏ nhu cầu vốn tín dụng của khách hàng Bước 2: Phân tích tín dụng Đây là bước đặc biệt quan trọng giúp ngân hàng nâng cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro tín dụng, là hoạt động xem xét, đánh giá mọi mặt về khách hàng trước khi đưa ra quyết định cho vay, xem xét khả năng hoàn tiền vay cũng như đánh giá mức độ rủi ro của từng khách hàng đối với từng khoản vay. Đây cũng là bước thực hiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp của ngân hàng. Bước 3: Quyết định tín dụng Sau khi đánh giá khách hàng, ngân hàng sẽ đưa ra những phán quyết có hay không cấp tín dụng, tuỳ thuộc vào từng khách hàng, nhu cầu vay, cũng như khả năng nguồn vốn của họ để xác định giới hạn cho vay tối đa. Bước 4: Giải ngân Ngân hàng thực hiện đi tiền theo nhu cầu của khách hàng, có thể là tiền mặt hoặc chuyển khoản trực tiếp phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Bước 5: Giám sát tín dụng Sau khi cấp tín dụng, ngân hàng sẽ thực hiện theo khoản vay này thường xuyên, kiểm tra mục đích sử dụng vốn và theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng để điều chỉnh lại những đánh giá cũng như phát hiện, ngăn ngừa kịp thời những hành vi ảnh hưởng đến an toàn tín dụng của ngân hàng. Bước 6: Thanh lý tín dụng Khi đến hạn, ngân hàng sẽ thực hiện quá trình thu nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ như gia hạn nợ hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ, xử lý, chuyển các khoản nợ đã quá hạn. Như vậy, hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp là một bước rất quan trọng trong quy trình cấp tín dụng tại NHTM, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đưa ra quyết định của cán bộ tín dụng và để hiểu rõ hơn về hoạt động đó, ta sẽ đi sâu vào phân tích, tìm hiểu chi tiết hơn ở phần tiếp theo (Lưu Thị Hương, 2014). Công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1.