Chương 1, tác giả đã nêu ra được lý do lựa chọn Đề tài, hướng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của Đề tài nghiên cứu. Qua đó tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Hoàn thiện công tác phân tích báo tài chính tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt (Navibank)”. 6 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính trong Ngân hàng thương mại.1 Khái niệm phân tích báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là loại báo cáo kế toán, phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, tính hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định (PGS.TS Nguyễn Năng Phúc, giáo trình phân tích báo cáo tài chính, nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, năm 2013). Báo cáo tài chính là các báo cáo kế toán cung cấp thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp, luồng tiền vào ra của doanh nghiệp giúp cho những người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định kinh tế.
Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính kỳ kinh doanh hiện tại với các kỳ trước để cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá được hiệu quả kinh doanh, tiềm năng phát triển cũng như các rủi ro về mặt tài chính trong tương lai của doanh nghiệp.2 Ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính trong Ngân hàng thương mại Phân tích báo cáo tài chính của NHTM có ý nghĩa hết sức quan trọng, cung cấp các thông tin hữu ích cho nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau vì phân tích báo cáo tài chính không những phản ánh tình hình tài chính của ngân hàng mà còn cung cấp các thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ. Phân tích báo cáo tài chính giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp và các cấp quản lý thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của Ngân hàng để các đối tượng sử dụng thông tin ra các quyết định kinh doanh đúng đắn. Đối với các nhà quản trị ngân hàng: Việc phân tích báo cáo tài chính giúp cho các nhà quản trị ngân hàng kiểm soát và đưa ra được các quyết định đầu tư, mở 7 rộng thị trường kinh doanh, phân chia lợi tức….và hoạch định kế hoạch tài chính trong tương lai. Đồng thời giúp các nhà quản trị có các biện pháp tăng khả năng sinh lời và ngăn ngừa được rủi ro.
Do những đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng. Tiền vừa là phương tiện, mục đích và đối tượng kinh doanh của các Ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng chủ yếu dựa trên vốn của người khác, ngân hàng có các chính sách chăm sóc khách hàng để thu hút tiền gửi của cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế và cho các đối tượng kinh doanh có nhu cầu vay nên có chứa đựng nhiều rủi ro đòi hỏi các nhà quản trị làm thế nào để giảm bớt rủi ro, gây thất thoát vốn cho Ngân hàng mình và nâng cao được uy tín, thương hiệu và tăng sức cạnh tranh trên thị trường tài chính. Đối với các nhà đầu tư: Các nhà đầu tư quan tâm tới sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, tỉ suất lãi, doanh thu hàng năm, nợ tồn đọng,….
Các chỉ số phân tích sẽ cung cấp một cách chính xác, kịp thời và thiết yếu cho các nhà đầu tư có ý định đầu tư vào doanh nghiệp. Đối với khách hàng: Các khách hàng quan tâm đến thương hiệu, uy tín, vốn chủ sở hữu cho biết quy mô của ngân hàng, khả năng thanh toán,…. để họ gửi tiết kiệm và rút tiền khi có nhu cầu. Đối với các cơ quan quản lý: Các cơ quan quản lý cần các thông tin phân tích báo cáo tài chính để kiểm tra tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng để ban hành các chính sách quản lý và đảm bảo hệ thống NHTM hoạt động kinh doanh có hiệu quả và đi theo định hướng phát triển chung của Nhà nước.
Ngoài các đối tượng quan tâm đến phân tích báo cáo tài chính trên thì còn có các đối tượng quan tâm khác như nhân viên ngân hàng, các nhà cung cấp, các nhà nghiên cứu, các sinh viên, các đối thủ cạnh tranh,….2 Hệ thống báo cáo tài chính Ngân hàng thương mại Theo quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/04/2007 của Thống đốc NHNN Việt Nam về việc ban hành Chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng thì khái niệm báo cáo tài chính của các TCTD được hiểu như sau: “Báo cáo tài chính của các TCTD là các báo cáo được lập theo các Chuẩn mực Kế toán Việt 8 Nam và Chế độ kế toán hiện hành để phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của TCTD. Hệ thống báo cáo tài chính đối với các TCTD bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính”. Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và luồng tiền vào ra của NHTM, đáp ứng được yêu cầu của nhà quản trị ngân hàng, cơ quan quản lý Nhà nước và người sử dụng thông tin trong việc ra quyết định kinh tế. Hệ thống báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng bao gồm: - Bảng cân đối kế toán: Mẫu số B 02/TCTD - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Mẫu số B 03/TCTD - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Mẫu số B 04/TCTD - Thuyết minh báo cáo tài chính: Mẫu số B 05/TCTD 2.1 Bảng cân đối kế toán Bảng CĐKT phản ánh tổng quát tình hình tài sản và nguồn vốn của Ngân hàng dưới hình thức tiền tệ tại một thời điểm nhất định.
Bảng CĐKT cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của Ngân hàng theo mặt rõ rệt là về tài sản và nguồn vốn hình thành nên các tài sản đó. Thông qua bảng cân đối kế toán có thể xem xét, nghiên cứu, phân tích đánh giá tình hình tài chính, quy mô vốn, quy mô tài sản, khả năng thanh toán, mức độ an toàn vốn,…… của Ngân hàng. Đồng thời cũng phân tích được tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Từ đó cũng đánh giá được trình độ quản lý, chất lượng kinh doanh và xu hướng phát triển của Ngân hàng trong tương lai.
Bảng cân đối kế toán phản ánh tài sản theo hai mặt cơ cấu và nguồn hình thành nên tổng tài sản phải luôn bằng tổng nguồn vốn và các khoản mục thuộc tài sản (hoặc nguồn vốn) đều được sắp xếp theo thứ tự phản ánh tính thanh khoản giảm dần. Bảng CĐKT của NHTM bao gồm những khoản mục chủ yếu sau: - Tài sản gồm: Tiền mặt, vàng bạc đá quý; Tiền gửi tại NHNN; Tiền, vàng gửi tại các tổ chức tín dụng khác và cho vay các tổ chức tín dụng khác; Chứng khoán 9 kinh doanh; Các công cụ tài chính phát sinh và các tài sản tài chính khác; Cho vay và cho thuê tài chính khách hàng; Chứng khoán đầu tư; góp vốn đầu tư dài hạn; tài sản cố định; Tài sản khác. - Nguồn vốn gồm: + Nợ phải trả gồm: Các khoản nợ chính phủ và NHNN; Tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác; Tiền gửi của khách hàng; Vốn tài trợ, ủy thác đầu tư, cho vay các tổ chức tín dụng chịu rủi ro; Chứng chỉ tiền gửi và phát hành trái phiếu; Các khoản nợ khác + Vốn chủ sở hữu: là vốn mà các nhà đầu tư đóng góp khi thành lập đơn vị và được bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh được thể hiện dưới dạng lợi nhuận để lại. Bên cạnh các chỉ tiêu trong bảng CĐKT, có nhiều khoản mục ngoại bảng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
Đó là những khoản chưa được thừa nhận là Tài sản nợ hay Tài sản có. Các hoạt động này phát sinh được Ngân hàng theo dõi ngoại bảng. Ví dụ: - Các cam kết bảo lãnh, tài trợ cho khách hàng, bao gồm: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,…. - Các cam kết của ngân hàng với khách hàng trong việc thực hiện các giao dịch trong tương lai như: hợp đồng giao dịch lãi suất, hợp đồng giao dịch ngoại tệ,…… Vì vậy ngoài việc theo dõi nội bảng, các tổ chức tín dụng thường xuyên theo dõi, tính toán, phân tích các khoản mục ngoại bảng này vì nó có ảnh hưởng không ít đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tóm lược các khoản doanh thu, các khoản chi phí và kết quả kinh doanh liên quan đến từng hoạt động kinh doanh trong một kỳ kế toán của NHTM.
Nội dung chủ yếu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM gồm: 10 Thu nhập lãi thuần = thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự trừ (-) chi phí lãi và các khoản khoản chi phí tương tự. Lãi/lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ. Lãi/lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối. Lãi/lỗ thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh.
Lãi/lỗ thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư. Lãi/lỗ từ hoạt động khác. Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần. Chi phí hoạt động.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Tổng lợi nhuận sau thuế. Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế Lợi ích của cổ đông thiểu số Lãi cơ bản trên cổ phiếu (chỉ tiêu này được tính theo chuẩn mực số 30 – Lãi trên cổ phiếu). Các loại thu nhập chủ yếu phát sinh trong hoạt động của Ngân hàng bao gồm: Thu nhập lãi, thu phí dịch vụ, hoa hồng và các kết quả kinh doanh khác. Các loại chi phí chủ yếu phát sinh trong hoạt động của Ngân hàng bao gồm: Chi phí lãi, chi phí hoa hồng, chi phí dự phòng rủi ro tổn thất các khoản vay và ứng trước, chi phí dự phòng giảm giá các khoản đầu tư và chi phí quản lý.