CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC THẨM TRA THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Khái quát chung về công tác thẩm tra thiết kế công trình thủy lợi Thủy lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Thủy lợi còn có tác dụng chống lại sự cố kết đất, Thủy lợi thường được nghiên cứu cùng với hệ thống tiêu thoát nước, hệ thống này có thể là tự nhiên hay nhân tạo để thoát nước mặt hoặc nước dưới đất của một khu vực cụ thể. Công trình thủy lợi được quy định tại Khoản 3 Điều 2 Luật Thủy lợi 2017 [1] có hiệu lực ngày 01/07/2018, theo đó: Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi. Hệ thống công trình thủy lợi: Bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định.
Hệ thống công trình thủy lợi bao gồm: Công trình đầu mối, mạng lưới kênh mương, các công trình trên kênh… a) Công trình thủy lợi đầu mối: là công trình thủy lợi ở vị trí khởi đầu của hệ thống tích trữ, điều hòa, phân phối, cấp, điều tiết nước hoặc công trình ở vị trí cuối của hệ thống tiêu, thoát nước. - Hồ chứa nước: Giữ nước mưa và dòng chảy của sông suối trong mùa mưa để sử dụng trong mùa khô. Hồ chứa nước thường bao gồm các hạng mục: Đập ngăn nước, đập tràn xả nước thừa, cống lấy nước vào kênh dẫn… - Đập dâng: Ngăn nước của sông, suối để tạo mực nước cần thiết chảy trong kênh mương đến các khu cần tưới. Đập dâng cùng với cống lấy nước đầu kênh tạo thành cụm đầu mối công trình đập dâng nước.
- Trạm bơm: Trạm bơm nước từ nguồn nước vào kênh hoặc đường ống dẫn phục vụ sản xuất, dân sinh, (bao gồm bơm điện, bơm dầu, bơm thủy luân, …). 4 b) Mạng lưới kênh mương - Kênh đất, kênh lát mái, kênh xây gạch, đá, kênh bê tông, kênh bằng đường ống các loại…(có độ dốc đảm bảo dẫn nước tự chảy thông suốt từ đầu mối đến mặt ruộng hoặc nơi cần cấp nước, tiêu nước). Kênh mương tưới là kênh mương làm nhiệm vụ dẫn nước tưới từ đầu mối đến mặt ruộng hoặc nơi cần cấp nước. Mạng lưới kênh mương được chia thành các cấp kênh: kênh chính (kênh cấp I) dẫn nước từ đầu mối cấp vào các kênh nhánh (cấp II).
Kênh nhánh cấp II cấp nước vào kênh nhánh cấp III. Kênh nhánh cấp III cấp nước vào kênh nội đồng. Kênh mương tiêu là kênh mương làm nhiệm vụ tiêu thoát nước chống sói lở, ngập úng. c) Các công trình trên kênh Cống lấy nước đầu kênh, bể lắng cát kết hợp tràn xả nước thừa khi có lũ, tràn qua kênh, kết hợp tràn nước thừa trong kênh, ống dẫn xi phông, cầu máng, công trình chia nước.
Nhờ có hệ thống thủy lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa trong sản xuất. Mặt khác nhờ có hệ thống thủy lợi công cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng vụ, tăng hệ số quay vòng sử dụng đất. Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng đã tăng vụ mùa trong sản xuất. Hiện nay do có sự quan tâm đầu tư một cách thích đáng của Đảng và Nhà nước từ đó tạo cho nghành thủy lợi có sự phát triển đáng kể góp phần vào vấn đề xóa đói giảm nghèo, tăng sản lượng lương thực và xuất khẩu thu ngoại tệ… Ngoài ra, nhờ có hệ thống thủy lợi cũng góp phần vào việc chống hiện tượng sa mạc hóa.
Tóm lại, công trình thủy lợi đang giữ vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế Quốc gia nên công tác đảm bảo chất lượng các công trình thủy lợi đặc biệt là giai đoạn thiết kế công trình, do đó năng lực thẩm tra của đơn vị tư vấn là rất quan trọng. Vì vậy, để nghiên cứu tổng quan về năng lực thẩm tra thiết kế các công trình thủy lới cần phải nghiên cứu, đánh giá năng lực thẩm tra về các phương diện: thẩm tra công tác khảo sát, thẩm tra thiết kế công trình đầu mối và thẩm tra dự toán.2 Đánh giá chung về công tác thẩm tra thiết kế công trình thủy lợi ở Việt Nam 1.1 Năng lực thẩm tra công tác khảo sát Khảo sát xây dựng là công việc đo vẽ, thăm dò, thu thập, phân tích, nghiên cứu và đánh giá các điều kiện thiên nhiên tại địa điểm xây dựng về địa hình, địa mạo, địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công trình, các quá trình và hiện tượng địa chất vật lý, khí tượng thủy văn, hiện trạng công trình để lập các giải pháp đúng đắn về kỹ thuật và hợp lý nhất về kinh tế khi thiết kế, xây dựng công trình. Chính vì thế, khảo sát có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn tiền dự án, đảm bảo tính khả thi, hiệu quả của dự án khi triển khai trên thực tế, đồng thời góp phần tiết kiệm chi phí đầu tư xây dựng. Do vậy, cần phải đầu tư thích đáng cho công tác khảo sát.
Song vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý khoản chi phí này. Hiện nay, để quản lý hiệu quả chi phí đầu tư xây dựng, các cấp, các ngành đã xác định ưu tiên hàng đầu công tác quản lý chi phí khảo sát xây dựng. Ngày 6-2-2017, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư 01/2017/TT-BXD [2] hướng dẫn xác định và quản lý chi phí khảo sát xây dựng phục vụ lập dự án đầu tư xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, khảo sát phục vụ lập quy hoạch xây dựng và các công tác khảo sát khác có liên quan trong hoạt động đầu tư xây dựng. Hoạt động khảo sát xây dựng bao gồm có: khảo sát địa hình, khảo sát địa chất công trình, khảo sát địa chất thuỷ văn, khảo sát hiện trạng công trình và các công việc khảo sát khác phục vụ cho hoạt động đầu tư xây dựng công trình.
Thành phần công tác và khối lượng khảo sát được xác định tuỳ thuộc vào bước thiết kế, đặc điểm của công trình xây dựng, điều kiện tự nhiên của khu vực khảo sát, mức độ phức tạp về điều kiện địa chất công trình, tài liệu khảo sát hiện có. nhưng phải đảm bảo khảo sát hết tầng đất đá trong phạm vi ảnh hưởng của tải trọng công trình. Tọa độ, cao độ các điểm thăm dò có thể giả định nhưng phải đảm bảo đo nối được với hệ thống tọa độ, cao độ của công trình hoặc của quốc gia khi cần thiết. Thành phần công tác khảo sát phục vụ các bước thiết kế: 6 - Thu thập, phân tích và đánh giá tài liệu khảo sát hiện có của khu vực xây dựng; đánh giá hiện trạng các công trình xây dựng liền kề có ảnh hưởng đến các công trình thuộc dự án; - Đo vẽ địa chất công trình; - Thăm dò địa chất công trình, địa chất thuỷ văn; - Thăm dò địa vật lý (nếu cần); - Khảo sát khí tượng - thuỷ văn (nếu cần); - Nghiên cứu đặc điểm kiến tạo (nếu cần); - Thí nghiệm mẫu đất đá, mẫu nước trong phòng thí nghiệm; - Quan trắc địa kỹ thuật; - Chỉnh lý và lập báo cáo kết quả khảo sát.
Vai trò của công tác khảo sát trong hoạt động đầu tư xây dựng công trình thủy lợi: Bản chất của việc khảo sát là để chúng ta có thể đánh giá mức độ thích hợp của địa điểm dự định xây dựng công trình và khí hậu, môi trường xung quanh ảnh hưởng gì đến công trình dự kiến xây dựng; Sau đó đưa ra giải pháp thiết kế tối ưu nhất, và với tài liệu khảo sát địa chất thì ta có thể lựa chọn biện pháp gia cố nền móng cho công trình dự kiến xây dựng một cách hợp lý, an toàn và tiết kiệm. Từ tài liệu khảo sát địa chất, địa hình của công trình. TVTK có thể đưa ra những phương án thiết kế, từ những phương án TVTK đưa ra, CĐT và cơ quan thẩm định có thể lựa chọn được những giải pháp tối ưu nhất cho công trình. Cùng với đó TVTK có thể đánh giá mức độ an toàn của các công trình đang tồn tại để khi thi công công trình được đầu tư xây dựng mới, TVTK sẽ đưa ra những giải pháp không làm ảnh hưởng đến công trình đang tồn tại.
Thực tế trong thời gian qua, qua việc thẩm tra nhiệm vụ dự toán khảo sát công trình, tác giả nhận thấy một số đơn vị tư vấn thường tăng giá trị khảo sát bằng nhiều cách như: tăng số lượng hố khoan, tăng chiều sâu hố khoan, đề xuất những vị trí khoan không cần thiết. Xác định nhiệm vụ khảo sát chưa thực sự hợp đối với yêu cầu thiết kế. Khối 7 lượng khảo sát địa hình chưa thật sự phù hợp: có những công trình thiết kế kênh, mặt cắt ngang thiết kế của cả kênh và đường bê tông kết hợp giao thông có 5m thì lại thấy mặt cắt ngang khảo sát khảo sát tận 20m, rất lãng phí, thừa thãi. Từ đây có thể thấy một số bộ phận kiểm tra hồ sơ khảo sát của CĐT còn yếu kém, hoặc không kiểm soát nổi, tư vấn trình hồ sơ thế nào là duyệt thế đó.
Nội dung, yêu cầu kỹ thuật chưa khớp với nhiệm vụ khảo sát. Khảo sát địa chất thủy văn chưa đầy đủ số liệu, dùng phương pháp ngoại suy để có các số liệu, dẫn đến không sát với thực tế, không phản ánh hết bản chất về thủy văn của công trình. Việc tính toán, xử lý ổn định công trình qua các vùng đất yếu, sụt, trượt… sơ sài, tư vấn thường áp dụng định hình có sẵn mà không tính toán kiểm tra lại, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công trình sau khi thi công cũng như gây lãng phí khi phải điều chỉnh thiết kế, phương án thi công do chất lượng khảo sát xây dựng, khảo sát thiết kế kém. Do đó, cơ quan chuyên môn đánh giá, Thông tư 01/2017/TT-BXD [2] của Bộ Xây dựng có nhiều điểm mới, không chỉ quy định rõ ràng và chi tiết hơn các chi phí trong khảo sát xây dựng, tránh cách tính chung chung thiếu rõ ràng trước đây mà còn nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư đối với công tác khảo sát xây dựng.