CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Khái quát về kế hoạch kiểm toán 1. Khái quát về kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán là quá trình các Kiểm toán viên (KTV) độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin được kiểm toán nhằm xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp của các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập. Từ định nghĩa trên, ta có thể thấy kiểm toán có hai chức năng chính đó là: chức năng xác minh (kiểm tra, xác nhận) và chức năng tư vấn (trình bày ý kiến).
Hai chức năng này hình thành và phát triển hoàn toàn khác nhau tùy theo từng giai đoạn lịch sử nhất định. Chức năng xác minh là chức năng được hình thành đầu tiên gắn liền với sự ra đời, hình thành, phát triển của kiểm toán. Còn chức năng tư vấn thì mới chỉ phát triển mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XX, nhưng lại giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trường phát triển cao như hiện nay. Căn cứ vào đối tượng trực tiếp của kiểm toán, kiểm toán được chia làm ba loại: Kiểm toán hoạt động (Performance Audit), Kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit) và kiểm toán BCTC (Audit of Financial Statements).
Kiểm toán BCTC là quá trình các KTV độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các BCTC được kiểm toán nhằm xác nhận và báo cáo về mực độ trung thực, hợp lý của các BCTC được kiểm toán so với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập. Đối tượng của kiểm toán BCTC là các BCTC, gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh Báo cáo tài chính. Các báo cáo này chứa đựng những thông tin tài chính và thông tin phi tài chính, thông tin định lượng và thông tin không định lượng, phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình và kết quả lưu chuyển tiền tệ và các thông tin cần thiết khác để người sử dụng BCTC có thể phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình và kết quả kinh doanh của đơn vị. SV: Vũ Thị Kim Tiến Lớp CQ50/22.06 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Tốt nghiệp Chuyên ngành Kiểm toán Cơ sở của các BCTC là các quy định về kế toán, gồm cả quy định pháp lý về kế toán như Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán và quy định về kế toán tại đơn vị như các quy định về hệ thống tài khoản, hình thức sổ kế toán, các chính sách kế toán… Ngoài ra cơ sở của các BCTC còn bao gồm cả các quy định pháp lý khác có liên quan đến quá trình tổ chức và hoạt động kinh doanh của đơn vị như những quy định về SXKD, trao đổi, mua bán sản phẩm, quản lý lao động, vật tư và nghĩa vụ đối với nhà nước… Khi tiến hành kiểm toán, có hai cách cơ bản để tiếp cận và phân chia các BCTC thành các phần hành kiểm toán đó là: theo khoản mục hoặc theo chu kỳ.
Tiếp cận theo khoản mục trên BCTC là cách phân chia BCTC thành từng khoản mục hoặc nhóm khoản mục theo thứ tự trên BCTC vào một phần hành. Cách thực hiện này đơn giản, tiết kiệm thời gian và dễ thực hiện nhưng lại không hiệu quả do tách biệt các khoản mục ở các vị trí khác nhau nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, chẳng hạn hàng tồn kho và giá vốn hàng bán. Tiếp cận theo chu kỳ là cách tiếp cận căn cứ vào mối quan hệ chặt chẽ giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố trong một chu trình chung của hoạt động tài chính. Cách tiếp cận này hiệu quả hơn do xuất phát từ mối liên hệ vốn có giữa các nghiệp vụ vì thế cách tiếp cận này thường được sử dụng nhiều hơn.
Kết quả của kiểm toán BCTC là các BCKT, trong đó nêu rõ ý kiến của KTV về mức độ trung thực, hợp lý của BCTC được kiểm toán trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán. Để có được các bằng chứng kiểm toán này, KTV phải sử dụng các phương pháp kiểm toán, các kỹ thuật nghiệp vụ cụ thể để thu thập. Các phương pháp được sử dụng trong kiểm toán đó là phương pháp kiểm toán tuân thủ và phương pháp kiểm toán cơ bản. Phương pháp kiểm toán tuân thủ có thể được sử dụng hoặc không tùy thuộc vào hiệu lực của hệ thống KSNB nhưng phương pháp kiểm toán cơ bản thì luôn được sử dụng trong bất kỳ một cuộc kiểm toán nào.
Để thu thập các bằng chứng kiểm toán, các kỹ thuật kiểm toán thường được sử dụng là: kiểm tra, quan sát, điều tra, xác nhận, tính toán và quy trình phân tích. Việc thực hiện các kỹ thuật này một phần tùy thuộc vào thời gian thu thập được bằng chứng SV: Vũ Thị Kim Tiến Lớp CQ50/22.06 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Tốt nghiệp Chuyên ngành Kiểm toán kiểm toán. Vì vậy, tùy từng trường hợp cụ thể mà KTV sử dụng phương pháp và kỹ thuật kiểm toán cụ thể cho phù hợp để mang lại bằng chứng kiểm toán thích hợp, giúp KTV đưa ra ý kiến nhận xét đúng đắn. Quy trình chung kiểm toán Báo cáo tài chính Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán, cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp làm căn cứ cho kết luận của KTV về tính trung thực, hợp lý của số liệu trên BCTC, cuộc kiểm toán thường được tiến hành gồm ba giai đoạn theo sơ đồ 1.1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Giai đoạn I Lập kế hoạch kiểm toán Giai đoạn II Thực hiện kế hoạch kiểm toán Giai đoạn III Kết thúc kiểm toán Giai đoạn I: Lập kế hoạch kiểm toán Cũng như các kế hoạch khác, kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực giữa nhu cầu và nguồn lực đã có.
Vì thế, KHKT phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán. Giai đoạn lập KHKT gồm các bước công việc như công tác chuẩn bị (tiếp nhận KH và bố trí nhân sự kiểm toán, phương tiện làm việc); lập KHKT và xây dựng chương trình kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán sẽ giúp các kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan khác như kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài… Qua đó, kiểm toán viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các chi phí ở mức hợp lý, SV: Vũ Thị Kim Tiến Lớp CQ50/22.06 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Tốt nghiệp Chuyên ngành Kiểm toán tăng cường sức cạnh tranh cho công ty kiểm toán của mình và giữ uy tín với khách hàng. Giai đoạn II: Thực hiện kế hoạch kiểm toán Thực chất của giai đoạn này là triển khai các nội dung trong KHKT và chương trình kiểm toán nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán cho các nội dung và mục tiêu đã được thiết lập.
Đối với kiểm toán BCTC, những nội dung chính trong giai đoạn này bao gồm: Thực hiện các khảo sát kiểm soát (nếu có); thực hiện các thủ tục phân tích và các khảo sát chi tiết nghiệp vụ, khảo sát chi tiết số dư. Việc thực hiện thủ tục khảo sát kiểm soát phụ thuộc vào đánh giá của KTV về hiệu lực của hệ thống KSNB của đơn vị được kiểm toán. Nếu hệ thống KSNB được đánh giá là có hiệu lực thì KTV có thể tin tưởng và mở rộng phạm vi thực hiện khảo sát kiểm soát, nhờ đó sẽ thu hẹp được phạm vi áp dụng các khảo sát chi tiết. Ngược lại nếu KTV đánh giá hệ thống KSNB của đơn vị là kém hiệu lực thì KTV sẽ không áp dụng các khảo sát kiểm soát mà mở rộng phạm vi áp dụng các khảo sát chi tiết nghiệp vụ và số dư tài khoản.
Giai đoạn III: Kết thúc kiểm toán Sau khi thực hiện các khảo sát trên thì cần thiết phải tổng hợp kết quả và lập BCKT. Những công việc chủ yếu trong giai đoạn này gồm: soát xét những khoản nợ tiềm ẩn; soát xét những sự kiện phát sinh sau; thu thập những bằng chứng cuối cùng; đánh giá kết quả và xác định loại BCKT phù hợp và phát hành BCKT và hoàn tất hồ sơ kiểm toán. Soát xét các khoản nợ tiềm ẩn là việc xem xét các khoản nợ ngoài ý muốn có thể phát sinh làm ảnh hưởng đến BCTC như khoản tiền có thể bị phạt, bị bồi thường do bị kiện tụng…Các sự kiện phát sinh sau là những sự kiện có ảnh hưởng đến BCTC phát sinh khi kết thúc năm tài chính, khóa sổ lập BCTC nhưng trước khi ký BCKT như: bán hay dự kiến bán tài sản, những cổ phiếu hay trái phiếu mới phát hành, những rủi ro có thể xảy ra. Các khoản nợ và các sự kiện này có thể phát sinh làm ảnh hưởng đến BCTC, do vậy có ảnh hưởng đến ý kiến của KTV trên BCKT.
KTV phải thu thập những bằng chứng cuối cùng cho những sự SV: Vũ Thị Kim Tiến Lớp CQ50/22.06 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Tốt nghiệp Chuyên ngành Kiểm toán kiện này. Trên cơ sở đó tổng hợp, đánh giá kết quả và phát hành loại BCKT thích hợp. Khái quát về kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính 1. Khái niệm Kế hoạch kiểm toán là những định hướng và những công việc dự kiến phải làm trong quá trình kiểm toán, đồng thời kế hoạch kiểm toán cũng chỉ ra những điều kiện cần thiết để thực hiện một cuộc kiểm toán được sắp xếp theo một trình tự cụ thể nhất định.
Kế hoạch kiểm toán gồm: Kế hoạch chiến lược Kế hoạch kiểm toán tổng thể Chương trình kiểm toán Tại đoạn 04, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 300 - Lập kế hoạch kiểm toán định nghĩa Kế hoạch chiến lược như sau: “Kế hoạch chiến lược là định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và phương pháp tiếp cận chung của cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch ra dựa trên hiểu biết về tình hình hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán”. Tại đoạn 05, VSA 300: “Kế hoạch kiểm toán tổng thể là việc cụ thể hóa kế hoạch chiến lược và phương pháp tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của các thủ tục kiểm toán.